Xác ấm – CHƯƠNG 1 :BƯỚC MỘT: KHÁT KHAO

0
97

CHƯƠNG 1 :BƯỚC MỘT: KHÁT KHAO

TÔI ĐÃ CHẾT, NHƯNG CŨNG CHẲNG SAO. Tôi đã học được cách chung sống với nó. Rất xin lỗi vì tôi không thể tự giới thiệu đàng hoàng, nhưng tôi không còn tên nữa. Ít có ai trong số chúng tôi còn tên. Chúng tôi đánh mất tên mình như đánh mất chìa khóa ô tô, quên mất chúng như quên mất những ngày sinh nhật. Hình như tên tôi bắt đầu bằng chữ “R”, nhưng tôi chỉ nhớ được có thế. Kể cũng buồn cười, vì hồi còn sống tôi cực kỳ hay quên tên người khác. Anh bạn “M” của tôi bảo rằng thật mỉa mai thay vì khi đã biến thành Xác Sống thì cái gì cũng buồn cười, nhưng ta lại không cười nổi, vì môi đã rữa mất.

Chúng tôi trông cũng chẳng lấy gì làm hấp dẫn, nhưng cái chết đã nhẹ tay với tôi hơn so với nhiều người khác. Tôi mới bước vào giai đoạn thối rữa ban đầu chỉ có nước da xám ngoét, cái mùi khó chịu, quầng đen dưới mắt. Trông tôi gần như một Người Sống đang cần được đi nghỉ thôi. Trước khi biến thành Xác Sống chắc tôi làm việc trong ngành thương mại, nhân viên ngân hàng hoặc kinh doanh chứng khoán hoặc một gã học việc trẻ nào đó, vì quần áo tôi mặc trông khá bảnh. Quần đen, áo xám, cà vạt đỏ. Thỉnh thoảng M lại lấy chúng ra để chọc tôi. Anh chỉ vào cái cà vạt của tôi rồi cố cất tiếng cười, phát ra một âm thanh khùng khục, nghèn nghẹt đâu đó từ sâu trong bụng. Anh mặc một cái quần bò thủng lỗ chỗ và áo phông trắng. Giờ cái áo nhìn gớm lắm rồi. Lẽ ra anh ấy nên chọn áo màu sẫm hơn.

Chúng tôi thích đùa cợt và đoán già đoán non về quần áo của nhau, vì những lựa chọn thời trang cuối cùng này là dấu hiệu duy nhất về con người cũ của chúng tôi, trước khi chúng tôi mất hết nhân dạng. Có những người quần áo còn chẳng rõ bằng tôi: quần soóc áo nỉ, váy áo điệu đà. Vậy là chúng tôi cứ đoán bừa.

Cô từng là bồi bàn. Cô từng là sinh viên. Nghe có quen không?

Chẳng bao giờ nghe quen cả.

Không có ai trong số những người tôi biết có một ký ức cụ thể. Chỉ vài ý niệm mờ ảo về một thế giới đã không còn nữa. Những ấn tượng nhạt nhòa về cuộc sống trong quá khứ, vương vấn trong óc như cơn đau ảo từ những tay chân đã bị chặt. Chúng tôi nhận ra các dấu hiệu của nền văn minh – nhà cửa, xe cộ, cảnh quan chung chung – nhưng trong đó chúng tôi không có vai trò riêng nào. Không có lịch sử. Chúng tôi chỉ có mặt ở đây thôi. Chúng tôi làm những việc mình làm, thời gian trôi qua, và không ai đặt câu hỏi. Nhưng như tôi đã nói đấy, cũng chẳng sao. Trông chúng tôi có vẻ như không có đầu óc gì, nhưng không phải vậy. Các bánh răng nhận thức gỉ sét vẫn quay, chỉ chậm dần, chậm dần cho tới khi gần như chẳng thể nhìn ra được bất kỳ vận động bên ngoài nào. Chúng tôi gầm ghè và ậm ừ, chúng tôi nhún vai và gật đầu, và thỉnh thoảng một vài từ bật ra. Cũng chẳng khác trước là bao.

Nhưng việc quên mất tên khiến tôi thấy buồn. Trong tất cả, tôi thấy đó là điều bi thảm nhất. Tôi nhớ tên mình, và tôi khóc thương cho tên của những người khác, bởi vì tôi mong được yêu mến họ, nhưng tôi không biết họ là ai.

Có hàng trăm người chúng tôi sống trong một sân bay bỏ hoang ở bên ngoài một thành phố lớn nào đó. Tất nhiên chúng tôi không cần nơi trú ẩn hay hơi ấm, nhưng chúng tôi thích có các bức tường bao quanh và một mái nhà trên đầu. Nếu không thì chúng tôi sẽ chỉ lang thang ở giữa chốn đồng không mông quạnh, và điều đó có vẻ kinh khủng đến kỳ lạ. Không có gì xung quanh chúng tôi, không có gì để chạm vào hay nhìn ngắm, không có một đường nét rõ rệt nào, chỉ có chúng tôi và cái miệng há hốc của bầu trời. Theo trí tưởng tượng của tôi thì khi chết hẳn ta sẽ có cảm giác như thế. Một cõi hư vô mênh mông tuyệt đối.

Tôi nghĩ chúng tôi đã sống ở đó lâu lắm rồi. Da thịt tôi vẫn còn nguyên, nhưng có nhiều người lớn tuổi hơn trông chỉ khá hơn một bộ xương khô với chút cơ còn sót lại, quắt đi như thịt bò khô. Bằng cách nào đó những bó cơ ấy vẫn co duỗi, và họ tiếp tục cử động. Tôi chưa hề thấy ai trong số chúng tôi “chết” vì tuổi già. Có lẽ chúng tôi bất tử, tôi cũng không biết nữa. Tương lai đối với tôi cũng mờ mịt như quá khứ. Tôi thậm chí còn không thể tự bắt mình quan tâm đến bất kỳ điều gì ở bên phải hay bên trái hiện tại nữa, mà hiện tại thì cũng chẳng lấy gì làm khẩn cấp. Bạn có thể nói là cái chết đã làm tôi bớt căng thẳng.

Tôi đang đi trên thang cuốn thì M tìm thấy tôi. Mỗi ngày tôi lại đi thang cuốn vài lần, bất kỳ khi nào chúng chạy. Nó đã trở thành một nghi thức. Khu sân bay đã thành hoang phế, nhưng thỉnh thoảng vẫn có điện, có lẽ là truyền từ một máy phát khẩn cấp nào đó từ sâu tít dưới hầm. Đèn lập lòe sáng và các màn hình bật lên, các thứ máy móc rủng rỉnh hoạt động. Tôi ôm ấp từng giây phút ấy. Cái cảm giác rằng mọi thứ như đang sống dậy. Tôi đứng trên các bậc thang và lên cao dần như một linh hồn đang đi lên Thiên đàng, cái giấc mơ ngọt ngào của tuổi thơ chúng tôi, giờ chỉ còn là một trò đùa vô duyên.

Sau khi đi đi lại lại khoảng ba mươi lần, tôi đang đi lên tiếp thì thấy M đứng đợi trên đỉnh thang. Anh là hàng trăm cân cơ và mỡ phủ lên một khung xương cao hơn một mét chín. Râu ria xồm xoàm, đầu hói, người bầm dập và thối rữa, bộ mặt gớm guốc của anh hiện ra trong tầm mắt khi tôi đến đỉnh thang. Anh có phải là thiên thần đứng đón tôi ở cổng Thiên đàng không? Dãi đen ngòm đang nhỏ ra từ cái miệng tả tơi của anh.

Anh chỉ vơ vẩn về một hướng nào đó và lầm bầm, “Thành phố.”

Tôi gật đầu, đi theo anh.

Chúng tôi đi tìm thức ăn. Một đoàn đi săn hình thành quanh chúng tôi khi chúng tôi lê chân về phía thành phố. Không khó tìm người đi cùng trong những chuyến viễn chinh như thế này, cho dù không có ai đang đói. Ở đây rất ít khi có một ý nghĩ tập trung, và khi nó xuất hiện thì chúng tôi đều làm theo. Nếu không chúng tôi sẽ cứ đứng một chỗ và rên rỉ suốt ngay. Chúng tôi đứng một chỗ và rên rỉ rất nhiều. Hàng bao nhiêu năm trôi qua như thế. Da thịt khô héo đi trên xương và chúng tôi vẫn đứng đó, đợi cho thịt rữa hết. Đôi khi tôi tự hỏi mình bao nhiêu tuổi.

Thành phố nơi chúng tôi đi săn nằm khá gần. Đến khoảng trưa ngày hôm sau là chúng tôi đã đến nơi và bắt đầu đi tìm thịt tươi. Cơn đói mới mẻ này quả là một cảm giác kỳ lạ. Chúng tôi không cảm thấy nó trong dạ dày mình – nhiều người trong số chúng tôi cũng chẳng còn dạ dày nữa. Chúng tôi cảm thấy nó khắp mọi nơi trên cơ thể, một cảm giác trống rỗng, chùng xuống, như thể các tế bào trong người đang xẹp dần. Mùa đông năm trước, khi rất nhiều Người Sống nhập bọn với Người Chết và mồi ăn hiếm dần, tôi đã phải chứng kiến nhiều người bạn của tôi chết hẳn. Một biến đổi cũng chẳng lấy gì làm kịch tính. Họ chỉ đi chậm dần, rồi dừng lại, và một thời gian sau tôi nhận ra họ đã biến thành xác chết. Mới đầu tôi thấy sợ, nhưng theo đúng phép xã giao thì không nên để ý đến việc một người trong số chúng tôi chết. Tôi bèn rên rỉ vài tiếng để tự nguôi ngoai.

Tôi nghĩ phần lớn thế giới đã tận diệt, vì những thành phố chúng tôi đi qua cũng rữa nát như chính chúng tôi vậy. Nhà cửa đổ sậy. Xe cộ hoen rỉ nằm chật đường. Kính vỡ ở khắp nơi, và gió luồn lách qua những tòa nhà cao tầng trống trải, rền rĩ như một con vật bị bỏ mặc cho đến chết. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Bệnh tật ư? Hay chiến tranh? Xã hội sụp đổ? Hay chỉ vì chúng tôi? Người Chết đã thế chỗ Người Sống? Tôi đoán là cũng chẳng quan trọng gì. Một khi ta đã đến tận cùng thế giới thì có đi theo đường nào cũng chẳng thành vấn đề.

Chúng tôi bắt đầu ngửi thấy mùi Người Sống khi đến gần một khu nhà tập thể hoang phế. Đó không phải mùi hăng hắc của da và mồ hôi, mà lá cái mùi nồng đượm của năng lượng sống, giống mùi khét của tia chớp và hoa oải hương. Chúng tôi không ngửi thấy nó bằng mũi. Chúng tôi cảm nhận được nó ở sâu thẳm bên trong, gần não, giống như mù tạt. Chúng tôi vây quanh khu nhà rồi tìm đường vào trong.

Chúng tôi tìm thấy họ co rúm lại với nhau trong căn hộ một buồng bị chặn kín cửa sổ. Họ ăn mặc còn tệ hơn cả chúng tôi, người quấn sơ sài những mảnh giẻ bẩn thỉu và ai cũng đang trong tình trạng rất cần được cạo râu. M sẽ phải đeo cái bộ râu vàng bờm xờm kia trong suốt quãng đời Da Thịt còn lại của mình, nhưng mặt mũi tất cả những người khác trong số chúng tôi đều nhẵn nhụi. Đó là một trong những lợi thế khi đã chết, một việc khác mà chúng tôi không phải bận tâm nữa. Râu, tóc, móng chân… không còn phải chống lại bản năng sinh học nữa. Cơ thể hoang dại của chúng tôi cuối cùng thì cũng được thuần hóa.

Một cách chậm chạp, vụng về nhưng cực kỳ quyết tâm, chúng tôi lao vào đám Người Sống. Những phát súng nổ khiến bấu không khí bụi bặm ngập tràn thuốc súng và máu. Máu đen sì bắn tung tóe trên tường. Khi bị mất tay, mất chân, hay mất mồn phần cơ thể, chúng tôi đều cho qua. Chỉ là vấn đề thẩm mỹ vặt vãnh. Nhưng bị bắn vào đầu thì chũng tôi sẽ gục ngay. Hẳn là trong cái cục xốp màu xám teo tóp ấy vẫn còn chút gì giá trị, vì nếu mất nó chúng tôi sẽ trở thành xác chết. Hai Xác Sống bên phải và bên trái tôi ngã xuống đất kèm theo tiếng loét nhoét. Nhưng chúng tôi rất đông. Chúng tôi có thể áp đảo họ. Chúng tôi xông vào đám Người Sống, và chúng tôi ăn.

Việc ăn uống không lấy gì làm thú vị. Tôi nhá nát cánh tay của một người đàn ông, trong lòng trỗi dậy cảm giác ghét bỏ. Tôi ghét tiếng hét của ông ta, bởi vì tôi không thích đau đớn, tôi không thích làm hại ai, nhưng đây đã là thế giới của chúng tôi rồi. Đây là việc chúng tôi phải làm. Tất nhiên, nếu tôi không ăn hết cả người ông ta, nếu tôi để lại bộ não, ông ta sẽ sống dậy theo tôi quay về sân bay, và điều đó có thể làm tôi thấy dễ chịu hơn. Tôi sẽ giới thiệu ông ta với những người khác, và có thể chúng tôi sẽ đứng quanh quẩn và rên rỉ cùng nhau. Giờ thì khó có thể nói được “bạn bè” có nghĩa là gì, nhưng cõ lẽ như thế cũng na ná. Nếu tôi ghìm mình lại, nếu tôi để lại đủ…

Nhưng tôi không làm vậy. Tôi không thể. Cũng như mọi khi tôi ăn phần ngon nhất, cái phần khiến đầu tôi sáng bừng lên như một cái ti vi. Tôi ăn bộ não, và trong khoảng ba mươi giây, tôi lại có ký ức. Những hình ảnh thoáng qua của các cuộc diễu hành, nước hoa, âm nhạc… cuộc sống. Rồi tất cả lại nhạt đi, và tôi đứng dậy, rồi tất cả chúng tôi lại lê bước ra khỏi thành phố, người vẫn lạnh ngắt và xám ngoét như trước, nhưng cảm thấy dễ chịu hơn một chút. Không hẳn là “dễ chịu”, không phải là “vui vẻ”, chắc chắn không phải “đầy sức sống”, nhưng… bớt giống người chết hơn một chút. Với chúng tôi như thế đã là tốt lắm rồi.

Tôi tụt lại phía cuối trong khi thành phố lùi dần và biến mất sau lưng chúng tôi. Bước chân của tôi nặng nề hơn những người khác một chút. Khi tôi dừng lại ở một vũng nước mưa để rửa máu trên mặt và quần áo, M quay lại vỗ vai tôi. Anh biết tôi không thích một số lề thói của chúng tôi. Anh biết tôi nhạy cảm hơn nhiều so với những người khác. Thỉnh thoảng anh lại trêu tôi, quấn mớ tóc đen bù xù của tôi thành đuôi sam và nói, “Con gái. Đúng là… con gái.” Nhưng anh biết khi nào thì nên tôn trọng nỗi sầu muộn của tôi. Anh vỗ vai tôi rồi cứ đứng đó nhìn tôi. Khuôn mặt anh không còn biểu cảm được nữa, nhưng tôi biết anh muốn nói gì. Tôi gật đầu, và chúng tôi đi tiếp.

Tôi không biết vì sao chúng tôi phải giết người. Tôi không biết nhai cổ một người thì có lợi ích gì. Tôi ăn cắp những gì ông ta có để bù vào những gì tôi thiếu. Ông ta biến mất, còn tôi ở lại. Đó là những điều luật áp đặt đơn giản nhưng vô nghĩa được đưa ra bởi một nhà lập pháp điên rồ nào đó ở trên trời. Nhưng việc tuân thủ những điều luật đó khiến tôi vẫn còn đi lại được, nên tôi nhất nhất tuân theo chúng. Tôi ăn cho tới khi không ăn nổi nữa, rồi tôi lại ăn.

Chuyện này đã bắt đầu như thế nào? Tại sao chúng tôi lại biến thành như thế này? Có phải vì một virus bí ẩn nào đó không? Tia gamma ư? Một lời nguyền cổ xưa ư? Hay một cái gì đó còn phi lý hơn? Không ai nói về chuyện đó. Chúng tôi ở đây và mọi chuyện là như thế. Chúng tôi không than phiền. Chúng tôi không hỏi. Chúng tôi cứ làm việc của mình thôi.

Có một vực thẳm giữa tôi và thế giới bên ngoài con người tôi. Một vực thẳm rộng tới mức cảm giác của tôi không vượt qua nổi. Đến khi những tiếng hét của tôi vang vọng sang được bờ bên kia thì chũng đã biến thành tiếng rên rỉ.

Ở cổng Đến, chúng tôi được chào đón bởi một đám đông đang nhìn chúng tôi bằng những con mắt hoặc hốc mắt đói khát. Chúng tôi ném chiến lợi phẩm xuống sàn: hai người gần như còn nguyên vẹn, mấy cẳng chân béo mập, một khúc mình, tất cả còn ấm nguyên. Gọi đó là thức ăn thừa cũng được. Gọi đó là thức ăn mang về cũng được. Những Người Chết xông vào ăn ngấu nghiến ngay trên sàn nhà như thú vật. Sức sống còn sót lại trong những tế bào ấy sẽ giúp họ không chết hẳn, nhưng Người Chết nào không đi săn thì sẽ không bao giờ thỏa mãn hoàn toàn cả. Cũng giống như thủy thủ thiếu rau và hoa quả tươi khi đi biển, họ sẽ chết dần chết mòn trong sự thiếu thốn, lúc nào cũng yếu ớt và trống rỗng, vì cơn đói mới nảy sinh là một con quái vật cô đơn. Nó miễn cưỡng chấp nhận thứ thịt đã xỉn màu và thứ máu chỉ còn hơi âm ấm, nhưng cái nó thèm muốn nhất là sự gần gũi, mối liên kết khủng khiếp giữa mắt của họ và mắt của chúng tôi trong những giây phút cuối cùng đó, như một âm bản đen tối của tình yêu.

Tôi vẫy tay chào M rồi rời xa đám đông. Từ lâu tôi đã quen với mùi hôi thối của Người Chết, nhưng cái mùi bốc lên từ chỗ họ hôm nay nồng nặc một cách đặc biệt. Tôi không cần thở, nhưng tôi cần chút không khí trong lành.

Tôi đi ra đoạn hành lang bên ngoài và bước lên băng chuyền. Tôi đứng trên băng chuyền, ngắm cảnh vật trôi qua ngoài cửa sổ. Cũng chẳng có gì nhiều mà ngắm. Đường băng đang chuyển sang màu xanh vì cỏ dại và bụi rậm mọc dày. Những chiếc phản lực nằm im lìm trên nền bê tông như những con cá voi mắc cạn, trắng bệch, to đùng. Moby Dick[1], cuối cùng thì cũng bị chinh phục.

[1] Tên con cá voi trắng huyền thoại trong tiểu thuyết cùng tên (1851) của nhà văn Mỹ Herman Melville, rất thông minh và luôn tránh thoát được các cuộc vây bắt.

Hồi trước, khi còn sống, tôi không bao giờ có thể làm được chuyện này. Đứng im, ngắm thế giới trôi qua trước mắt, gần như không nghĩ gì. Tôi nhớ mình đã từng phải cố gắng. Tôi nhớ các mục tiêu, các thời hạn. Đích đến và tham vọng. Tôi nhớ mình đã từng sống có mục đích, lúc nào cũng phải có mặt ở mọi nơi. Giờ tôi cứ đứng trên băng chuyền, mặc cho nó đưa đi. Tôi đi đến cuối băng chuyền, quay người, rồi đi theo chiều ngược lại. Thế giới đã được chưng cất. Làm người chết thật dễ dàng.

Sau khi đi như thế được vài giờ, tôi nhận ra một cô gái trên băng chuyền đối diện. Cô không đi giật cục hay rên rỉ như phần lớn chúng tôi đầu cô chỉ ngoẹo từ bên này sang bên kia. Tôi bắt gặp ánh mắt cô và nhìn cô chăm chăm khi chúng tôi lại gần nhau. Trong một thoáng, chúng tôi đứng bên nhau, chỉ cách nhau vài bước. Chúng tôi đi qua nhau rồi tiến về phía cuối sảnh đối diện. Chúng tôi quay lại trên băng chuyền. Chúng tôi lại đi qua nhau. Tôi nhăn mặt, và cô ấy nhăn mặt lại. Đi đến lần thứ ba thì điện trong sân bay tắt, và chúng tôi dừng lại đối diện nhau. Tôi khò khè phát ra một tiếng chào, và cô nhún vai đáp lại.

Tôi thích cô. Tôi đưa tay ra chạm vào tóc cô. Cũng như tôi, cô mới ở giai đoạn thối rữa ban đầu. Da cô tái xanh và mắt thâm quầng, nhưng không có khúc xương hay cơ quan nội tạng nào lộ ra. Đồng tử cô có màu xám kẽm giống như mắt tất cả những Người Chết khác, nhưng nhạt hơn nhiều. Cô mặc váy đen và áo sơ mi trắng ôm sát người. Tôi đoán cô đã từng làm tiếp tân.

Trên ngực cô gắn biển tên màu bạc.

Cô ấy có tên.

Tôi nhìn cái biển tên chằm chằm, tôi cúi gần vào, gí mặt vào sát ngực cô, nhưng chẳng có ích gì. Các con chữ quay tròn, đảo ngược trong mắt tôi tôi không thể đọc được chúng. Cũng như mọi khi, chúng né tránh tôi, chỉ là một loạt những đường nét và dấu chấm vô nghĩa.

Một điều mỉa mai khác của Xác Sống mà M nghĩ ra – từ biển tên cho đến báo chí, câu trả lời cho mọi câu hỏi của chúng tôi được viết ra ở khắp xung quanh, nhưng chúng tôi không biết đọc.

Tôi chỉ biển tên và nhìn vào mắt cô gái. “Tên… cô?”

Cô nhìn tôi trân trân.

Tôi chỉ vào mình rồi thốt ra phần còn sót lại của tên mình. “Rrr”. Rồi tôi lại chỉ vào cô ấy.

Cô đưa mắt nhìn xuống sàn. Cô lắc đầu. Cô không nhớ. Cô thậm chí còn không có một âm tiết như M và tôi. Cô chẳng là ai cả. Nhưng có phải là tôi đang chờ đợi quá nhiều không? Tôi đưa tay ra, nắm lấy tay cô. Chúng tôi đi dọc theo băng chuyền, hai cánh tay vươn qua dải phân cách.

Cô gái này và tôi đã yêu nhau. Hoặc cảm thấy những gì còn sót lại của tình yêu.

Tôi còn nhớ trước kia tình yêu có cảm giác như thế nào. Nó phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố phức tạp về cảm xúc và sinh học. Chúng tôi phải trải qua nhiều cuộc thử thách rắc rối, phải thiết lập mối quan hệ, phải có những lúc vui lúc buồn, nước mắt và những lốc xoáy tình cảm. Thật khó khăn và đau đớn, nhưng cũng thật tràn trề sức sống. Tình yêu mới này đơn giản hơn. Dễ dàng hơn. Nhưng cũng ít ỏi hơn.

Bạn gái tôi cũng không nói gì nhiều. Chúng tôi đi xuôi những hành lang âm vang trong sân bay, thỉnh thoảng ngang qua một ai đó đang đứng nhìn ra cửa sổ hay nhìn vào tường. Tôi cố nghĩ xem nên nói gì, nhưng chẳng nghĩ được gì cả, và nếu có thì chắc tôi cũng không nói nổi. Đó là trở ngại lớn nhất của tôi, hòn đá lớn nhất trong số những hòn đá chắn đường tôi. Trong đầu mình thì tôi ăn nói hết sức hùng hồn tôi có thể trèo lên những giàn giáo phức tạp của từ ngữ để lên đến trần thánh đường cao nhất và vẽ nên những ý nghĩ của mình. Nhưng khi tôi mở miệng thì mọi thứ đều tan tành hết. Cho đến giờ thì kỷ lục của tôi là bốn âm tiết liền nhau trước khi một… cái gì đó… mắc kẹt. Ấy vậy mà có lẽ tôi đã là Xác Sống nói năng lưu loát nhất toàn sân bay này rồi đấy.

Tôi không biết tại sao chúng tôi không nói. Tôi không thể giải thích được sự im lặng ngột ngạt bao trùm lên thế giới của chúng tôi, chia cắt chúng tôi như tấm kính chắn giữa người tù và người đến thăm. Giới từ thật khó, mạo từ thật khổ, còn tính từ thì ngoài tầm với. Sự câm lặng này có phải sự tàn tật đích thực về thể xác không? Một trong số các triệu chứng khi biến thành Người Chết? Hay là vì chúng tôi không còn gì để nói?

Tôi thử nói chuyện với bạn gái mình, vụng về đưa ra mấy lời nói và những câu hỏi hời hợt, cố làm cô phản ứng, cố gợi một chút lý trí. Nhưng cô chỉ nhìn tôi như thể tôi quái dị lắm.

Chúng tôi đi lang thang vô định suốt mấy tiếng, nhưng rồi cô nắm lấy tay tôi và dẫn tôi đến đâu đó. Chúng tôi lảo đảo đi xuống thang cuốn đã ngừng lại và bước ra đường băng. Tôi mệt mỏi thở dài.

Cô ấy đang đưa tôi đến nhà thờ.

Người Chết đã xây một thánh đường trên đường băng. Từ thời xa xưa nào đó, có người đã đẩy các xe cầu thang lại với nhau, thành một giáo đường hình tròn. Chúng tôi tụ tập lại đây, chúng tôi đứng đó, chúng tôi giơ tay lên và rên rỉ. Đám Xương Khô già cỗi khua những cánh tay xương xẩu ở giữa vòng tròn và phát ra những bài thuyết pháp khô khan không lời qua hai hàm răng nhăn nhở. Tôi không hiểu đó là cái gì. Tôi nghĩ không ai hiểu cả. Nhưng đó là lúc duy nhất chúng tôi tự động tụ họp ở bên ngoài, dưới bầu trời rộng mở. Cái miệng vũ trụ mênh mông ấy, với những ngọn núi xa xa như những cái răng trong đầu lâu của Chúa, há hốc để nuốt chửng lấy chúng tôi. Để nuốt chúng tôi xuống nơi mà có lẽ chúng tôi thuộc về.

Bạn gái của tôi có vẻ mộ đạo hơn tôi nhiều. Cô nhắm mắt lại và vẫy tay với một vẻ gần như chân thành. Tôi đứng cạnh cô và im lặng giơ tay lên trời. Theo một tín hiệu không lời nào đó, có lẽ là bị thu hút bởi sự sùng kính của cô, đám Xương Khô không thuyết giáo nữa và nhìn chúng tôi chằm chằm. Một trong số chúng bước tới trước, trèo lên cầu thang chỗ chúng tôi ngồi, và nắm lấy tay chúng tôi. Nó dẫn chúng tôi xuống vòng tròn bên dưới và giơ tay chúng tôi lên trong nắm tay xương xẩu của nó. Nó phát ra một tiếng tựa như tiếng hét, một âm thanh khủng khiếp nghe như tiếng gió thổi qua một cái tù và bị vỡ, to đến giật mình, làm bầy chim sợ hãi bay vụt lên khỏi ngọn cây.

Giáo đoàn lầm bầm đáp lại, và thế là xong. Chúng tôi đã thành vợ chồng.

Chúng tôi quay trở lại chỗ ngồi trên bậc thang. Buổi lễ lại bắt đầu. Người vợ mới của tôi nhắm mắt lại và vẫy tay.

Cưới nhau được một ngày thì chúng tôi có con. Một nhóm Xương Khô chặn chúng tôi lại trong hành lang và giới thiệu chúng với chúng tôi. Một đứa con trai và một đứa con gái, khoảng sáu tuổi. Thằng bé có mái tóc vàng, da xám, mắt xám, trước kia có lẽ là người da trắng. Con bé da sẫm hơn, tóc đen, da nâu bủng, cặp mắt xám trũng sâu. Có lẽ nó là người Ả Rập. Đám Xương Khô đẩy chúng về phía trước và chúng rụt rè mỉm cười với chúng tôi, rồi ôm lấy chân chúng tôi. Tôi xoa đầu chúng và hỏi tên chúng là gì, nhưng chúng không có tên. Tôi thở dài, và cùng bước đi với vợ tôi, nắm tay hai đứa con của chúng tôi.

Tôi không hề trông đợi việc này. Đây là một trách nhiệm lớn. Những Người Chết còn nhỏ không có bản năng kiếm ăn như những người lớn. Chúng phải được chăm sóc và rèn luyện. Và chúng sẽ không bao giờ lớn. Bị chững lại vì lời nguyền của chúng tôi, chúng sẽ cứ bé nhỏ như thế mãi rồi nát rữa, rồi biến thành những bộ xương con, vẫn cử động được nhưng trống rỗng, với bộ não khô cứng kêu lục cục trong sọ, và sẽ lặp lại những thói quen và nghi thức của chúng cho đến một ngày kia, tôi đoán là chính bộ sxương cũng sẽ tan rữa ra, và chúng sẽ biến mất.

Cứ nhìn chúng mà xem. Ngắm chúng khi vợ chồng tôi thả tay chúng ra và chúng lang thang đi ra ngoài chơi. Chúng trêu đùa nhau và nhe răng cười. Chúng chơi những thứ còn chẳng phải là đồ chơi: dập ghim và ca uống nước với máy tính. Chúng cười khúc khích, rồi cười to, nhưng tiếng cười nghe nghèn nghẹt trong cổ họng khô khốc của chúng. Chúng tôi đã tẩy não chúng, cướp mất hơi thở của chúng, vậy mà chúng vẫn bám lấy bờ vực. Chúng vẫn cố hết sức chống lại lời nguyền của chúng tôi.

Tôi nhìn chúng biến vào ánh ngày mờ nhạt ở cuối hành lang. Sâu thẳm trong tôi, trong một góc tăm tối đầy mạng nhện, tôi cảm thấy có gì đó khẽ giần giật.

ĐÃ LẠI ĐẾN LÚC ĐI KIẾM ĂN.

Tôi không biết đã bao lâu rồi kể từ lần đi săn trước, có lẽ là mới chỉ vài ngày, nhưng tôi cảm thấy cơn đói. Tôi cảm thấy luồng điện trong tay chân mình đang chập chờn, yếu dần. Đầu tôi không ngừng tưởng tượng ra máu, thứ chất lỏng đỏ rực đầy mê hoặc ấy chảy qua những mô cơ hồng hồng với những mạng lưới rắc rối và những đoạn đứt gãy như trong tranh của Pollock[1], phập phồng, run rẩy đầy sức sống.

[1] Jackson Pollock (1912-1956), họa sĩ người Mỹ thuộc trường phái trừu tượng, nổi tiếng với các bức tranh vẽ bằng cách vẩy màu lên vải.

Tôi tìm thấy M trong khu bán thức ăn đang nói chuyện với mấy cô gái. Anh ấy hơi khác tôi. Anh có vẻ thực sự thích thú bầu bạn với phụ nữ, và cách phát âm rõ ràng của anh thu hút họ như thu hút những con cá chép bị lóa mắt, nhưng anh vẫn giữ khoảng cách với họ. Anh cười rồi bỏ mặc họ. Đám Xương Khô đã định kiếm vợ cho anh, nhưng anh bỏ đi. Đôi khi tôi tự hỏi liệu anh có triết lý sống nào không. Hay thậm chí là thế giới gian. Tôi muốn được ngồi xuống với anh và chọc ngoáy não anh, chỉ một miếng nhỏ ở đâu đó quanh thùy trán thôi, để nếm thử suy nghĩ của anh. Nhưng anh quá ư đầu gấu nên sẽ chẳng đời nào bị tổn thương như thế.

“Thành phố,” tôi nói, đặt tay lên bụng. “Thức ăn.”

Mấy cô gái đang nói chuyện với anh quay sang nhìn tôi rồi bỏ đi. Tôi nhận ra mình khiến nhiều người thấy ngần ngại.

“Vừa… ăn,” M nói, hơi nhíu mày nhìn tôi. “Hai ngày… trước.”

Tôi lại ôm bụng. “Thấy đói. Thấy… chết.”

Anh gật đầu. “Cưới… vợ mà.”

Tôi trừng mắt nhìn anh. Tôi lắc đầu và ôm bụng chặt hơn. “Cần. Đi… gọi mọi người.”

Anh thở dài và bước đi, trước đó còn huých mạnh vào người tôi, nhưng tôi không biết đó có phải là cố ý không. Dù sao thì anh cũng là Xác Sống mà.

Anh tìm được mấy người khác cũng đang đói và chúng tôi họp thành một nhóm nhỏ. Rất nhỏ. Nhỏ đến mức nguy hiểm. Nhưng tôi không thèm quan tâm. Tôi không nhớ nổi mình đã có bao giờ đói đến mức này chưa.

Chúng tôi đi về phía thành phố. Chúng tôi men theo xa lộ. Cũng như mọi thức khác, đường đang dần bị thiên nhiên lấn chỗ. Chúng tôi đi xuôi những con đường trống trải và những đường hầm phủ đầy dây trường xuân. Ký ức còn sót lại của tôi về những con đường này trái ngược hoàn toàn với vẻ bình an hiện tại của chúng. Tôi hít một hơi thật sâu bầu không khí ngọt ngào, yên tĩnh.

Chúng tôi đi vào trong thành phố sâu hơn mọi khi. Tôi chỉ còn ngửi thấy mùi bụi và gỉ sắt. Ngày càng hiếm Người Sống không có chỗ trú ẩn, và những kẻ đã có chỗ trú ẩn thì ngày càng ít ra ngoài hơn. Tôi đoán là các pháo đài trong sân vận động của họ đã thành nơi tự cung tự cấp. Tôi tưởng tượng ra những khu vườn rộng được cày lên bên lề sân, trồng đầy cà rốt và đậu. Gia súc nuôi trong lô dành cho nhà báo. Ruộng lúa ở ngoài khung thành. Chúng tôi nhìn thấy thành lũy lớn nhất vươn lên đâu đó phía chân trời xa xăm, cái mái xếp giờ mở ra như đang trêu tức chúng tôi.

Nhưng cuối cùng thì chúng tôi cũng đánh hơi được con mồi. Mùi của sự sống tràn vào mũi chúng tôi sực nức, đột ngột như điện giật. Họ đang ở rất gần, và rất đông. Có lẽ phải đông bằng một nửa chúng tôi ấy. Chúng tôi chần chừ dừng lại. M nhìn tôi. Anh nhìn cái nhóm lèo tèo của chúng tôi, rồi lại nhìn tôi. “Không,” anh hực lên.

Tôi chỉ về phía tòa nhà chọc trời nghiêng ngả sắp đổ đang tỏa ra mùi hương rõ rệt đến độ ta như nhìn thấy một tua cuốn thơm tho như trong phim hoạt hình cứ thế mời mọc hãy đến đây…

“Ăn,” tôi nhắc lại.

M lắc đầu. “Quá… nhiều.”

“Ăn.”

Anh lại nhìn nhóm chúng tôi. Anh đánh hơi không khí. Những người khác có vẻ ngần ngừ. Một số cũng hít hít đầy nghi ngại, nhưng nhiều người thì lại quyết tâm không kém gì tôi. Họ rên rỉ và nhỏ dãi, táp táp hai hàm răng.

Tôi bắt đầu thấy bực bội. “Cần ăn!” tôi quát, trừng mắt nhìn M. “Đi… nào.” Tôi quay lưng và bắt đầu tập tễnh bước nhanh về phía tòa nhà chọc trời. Ý nghĩ tập trung. Theo phản xạ, đám đông liền bám theo tôi. M đuổi kịp và bước đi cạnh tôi, nhăn nhó nhìn tôi vẻ lo lắng.

Được kích thích một cách dữ dội đến không ngờ bởi sự kiện của tôi, nhóm chúng tôi xông qua cánh cửa xoay quyết lao vào những hành lang tối. Một trận động đất hoặc một vụ nổ đã phá hủy một phần móng của tòa nhà, khiến nó vẹo đi một góc như nhà cười. Chẳng dễ gì đi qua được những hành lang xiên xẹo, và góc nghiêng của tòa nhà khiến chúng tôi gần như đi không vững, nhưng mùi người sống tràn ngập khắp nơi. Sau khi leo mấy tầng cầu thang, tôi bắt đầu nghe thấy tiếng họ, đi lại, nói chuyện với nhau bằng những dòng từ ngữ đều đặn, nhịp nhàng. Tiếng Người Sống luôn mê hoặc tôi như kiểu một mùi hương âm thanh, và người tôi giật lên khi âm thanh ấy vang tới tai mình. Tôi chưa gặp một Xác Sống nào cùng chia sẻ niềm say mê dành cho những nhịp điệu êm ái ấy. M nghĩ đó chỉ là một sở thích bệnh hoạn.

Khi lên đến tầng họ đang ở, vài người trong chúng tôi bắt đầu gầm ghè rất to, khiến những Người Sống nghe thấy. Một người bọn họ hét lên cảnh báo và tôi nghe thấy tiếng súng lên cò, nhưng chúng tôi không hề chậm bước. Chúng tôi lao qua cánh cửa cuối cùng và xông tới tấn công. M gầm gừ khi nhìn thấy đám đông Người Sống, nhưng anh vẫn cùng tôi lao tới người gần nhất và túm chặt tay hắn trong khi tôi xé toạc cổ họng hắn. Vị máu nóng rực tuôn trào trong miệng tôi. Sức sống phun ra từ những tế bào của hắn như những tia dầu bắn ra từ vỏ cam, và tôi thèm thuồng hút cho bằng hết.

Bóng tối trong căn phòng nhập nhòa lửa súng, và theo tiêu chuẩn của chúng tôi thì chúng tôi đang bị áp đảo – chỉ có ba người chúng tôi đọ với một người bọn họ – nhưng có một điều đã mang lại lợi thế cho chúng tôi. Tốc độ điên cuồng của chúng tôi không giống với Người Chết, và con mồi của chúng tôi không lường trước được điều đó. Tất cả chuyện này đều từ tôi mà ra ư? Thường thì những sinh vật không có khát khao di chuyển không nhanh, nhưng họ lại đang đi theo tôi, mà tôi thì chẳng khác nào một cơn lốc dữ dằn. Tôi bị làm sao thế này? Lẽ nào chỉ là tôi đang phải trải qua một ngày tồi tệ?

Thêm một điều mang lại lợi thế cho chúng tôi. Những Người Sống này không phải chiến binh dày dạn. Họ còn trẻ. Chủ yếu là thanh thiếu niên, con trai và con gái. Một tên mặt đầy trứng cá nom phát gớm đến nỗi rất dễ bị bắn nhầm trong ánh sáng lập lòe này. Thủ lĩnh của họ là một gã trai lớn hơn, cằm lún phún râu, đang đứng trên một cái bàn ở giữa phòng và hốt hoảng ra lệnh cho quân của mình.

Khi những đứa khác lần lượt ngã xuống dưới sức mạnh từ cơn đói của chúng tôi, khi máu phun lấm chấm đầy tường, thì gã trai này cúi xuống che chở cho một dáng người nhỏ bé nằm gục dưới chân mình. Đó là một cô gái, tóc vàng, còn trẻ, đôi vai gầy guộc tựa vào khẩu súng trường trong khi cô bắn vô định vào bóng tối.

Tôi nhảy ngang qua căn phòng túm lấy đôi ủng của gã trai. Tôi kéo giật chân gã, làm gã ngã xuống, đầu đập vào mép bàn. Không chần chừ, tôi xông vào cắn cổ gã. Rồi tôi thọc tay vào vết rạn trên sọ gã và bửa đầu gã ra như tách một quả trứng. Não gã vẫn còn phập phồng hơi ấm. Tôi ngấu nghiến cắn một miếng thật to và…

Tôi là Perry Kelvin, một cậu bé chín tuổi lớn lên ở một vùng quê hẻo lánh chẳng mấy ai biết tới. Mối nguy chỉ xảy ra ở một đầu đất nước xa xôi, ở đây chúng tôi chẳng lo nghĩ gì đến chúng. Ngoài hàng rào dây thép phòng bị chăng giữa bờ sông và rặng núi, cuộc sống cơ hồ vẫn diễn ra bình thường. Tôi đi học. Tôi đang học về George Washington. Tôi đang cưỡi xe đạp trên con đường bụi bặm, mặc quần soóc áo may ô, cảm nhận ánh nắng mùa hè chiếu lên cổ. Cổ tôi. Cổ tôi đau quá, nó…

Tôi đang ăn một miếng pizzza với bố mẹ. Hôm nay là sinh nhật tôi và họ đang cố hết sức để chiêu đãi tôi, mặc dù tiền của họ gần như chẳng còn giá trị gì nữa. Tôi vừa qua tuổi mười một, và cuối cùng thì họ cũng cho tôi đi xem một trong vô số bộ phim về Xác Sống vừa ra lò gần đây. Tôi háo hức đến nỗi không ăn nổi. Tôi ngốn một miếng bánh rõ to, và pho mát nghẹn lại trong họng tôi. Tôi phải ợ ra và bố mẹ cười vang. Xốt cà chua rớt lên áo tôi như…

Tôi đã mười lăm tuổi, và đang nhìn qua cửa sổ ngắm những bức tường cao vời vợi của ngôi nhà mới của mình. Ánh mặt trời xuyên qua màn mây xám xịt đổ xuống qua mái Sân vận động để ngỏ. Tôi lại đang ở trường nghe giảng về ngữ pháp, và cố không nhìn cô gái xinh đẹp ngồi cạnh tôi. Cô có mái tóc vàng ngắn bờm xờm và cặp mắt xanh lung linh ánh lên một niềm vui bí ẩn nào đó. Tay tôi mướt mồ hôi. Miệng tôi đầy bụi vải. Khi tiết học kết thúc, tôi đuổi kịp cô trong hành lang và nói, “Chào.”

“Chào,” cô đáp lại.

“Mình mới đến.”

“Mình biết.”

“Tên mình là Perry.”

Cô mỉm cười. “Mình là Julie.”

Cô mỉm cười. Mắt cô lung linh sáng. “Mình là Julie.”

Cô mỉm cười. Tôi thoáng thấy dây kẽm chỉnh nha của cô. Mắt cô như những cuốn tiểu thuyết và những bài thơ kinh điển. “Mình là Julie,” cô nói.

Cô nói…

“Perry,” Julie thì thầm vào tai tôi khi tôi hôn lên cổ nàng. Nàng đan ngón tay vào tay tôi và nắm chặt.

Tôi hôn nàng thật sâu và vuốt ve gáy nàng, luồn tay vào tóc nàng. Tôi nhìn vào mắt nàng. “Em có muốn không?” Tôi thì thầm.

Nàng mỉm cười. Nàng nhắm mắt và nói, “Có.”

Tôi siết lấy nàng. Tôi muốn được là một phần của nàng. Không chỉ trong cơ thể nàng mà là khắp xung quanh nữa. Tôi muốn lồng ngực chúng tôi mở ra và tim chúng tôi nhập vào làm một. Tôi muốn từng tế bào của chúng tôi hòa vào nhau như những sợi chỉ của sự sống.

Và giờ thì tôi đã lớn hơn, chững chạc hơn, cưỡi một chiếc xe máy đi xuôi một con đường đã bị quên lãng nào đó trong trung tâm thành phố. Julie ngồi sau lưng tôi, tay ôm chặt lấy ngực tôi, chân quấn lấy chân tôi. Cặp kính râm của nàng lấp lánh trong ánh nắng khi nàng cười, để lộ hàm răng đều tăm tắp. Nụ cười ấy không còn là của riêng tôi nữa, và tôi biết vậy, tôi đã chấp nhận hiện tại và tương lai của mọi điều, cho dù nàng đã và sẽ không chịu chấp nhận. Nhưng ít nhất thì tôi cũng có thể bảo vệ nàng. Ít nhất tôi cũng có thể giữ cho nàng được an toàn. Nàng đẹp đến nao lòng, và đôi khi tôi có thể tưởng tượng ra trong đầu một tương laai với nàng, nhưng đầu tôi, đầu tôi đau quá, lạy Chúa đầu tôi…

Dừng lại.

Mi là ai? Hãy để những ký ức này biến đi. Mắt mi đang mờ kìa… hãy chớp mắt đi. Hãy khò khò khó nhọc hít lấy một hơi nào.

Mi lại là mi rồi. Mi không là ai cả.

Chào mừng trở lại.

Tôi cảm thấy mặt thảm dưới tay mình. Tôi nghe thấy tiếng súng nổ. Tôi lảo đảo đứng dậy và nhìn quanh, đầu óc quay cuồng. Tôi chưa bao giờ có một ký ức rõ rệt đến vậy, như cả một cuộn phim cuộc đời chiếu lên trong đầu tôi. Mắt tôi cay sè, nhưng tuyến lệ của tôi đã cạn khô. Nỗi đau cuồn cuộn trong tôi như hơi cay mà không được giải tỏa. Đây là lần đầu tiên kể từ khi chết đi tôi thấy đau đớn.

Tôi nghe thấy một tiếng hét gần bên và quay đầu lại. Là nàng. Nàng đang ở đây. Julie đang ở đây, giờ đã lớn hơn, có lẽ khoảng mười chín, vẻ mũm mĩm trẻ thơ đã biến mất để lộ những đường nét sắc gọn và dáng điệu duyên dáng hơn, những cơ bắp mảnh dẻ nhưng săn chắc trên vóc người nhỏ nhắn của nàng. Nàng đang co rúm ở một góc, tay không, gào khóc trong khi M tiến lại gần. Anh luôn tìm ra đám phụ nữ. Ký ức của họ là phim khiêu *** đối với anh. Tôi vẫn còn chưa định thần lại được, chưa biết rõ mình là ai hay đang ở đâu, nhưng…

Tôi đẩy M sang bên và gầm ghè, “Không. Của tôi.”

Anh nghiến răng như đang muốn tấn công tôi, nhưng một phát súng bắn toạc vai anh, và anh liền lê bước sang đầu bên kia phòng để giúp hai Xác Sống khác hạ một thằng nhóc súng đạn đầy mình.

Tôi tiến đến gần cô gái. Nàng rúm lại trước mặt tôi, da thịt mềm mại của nàng mời mọc tôi với tất cả những gì tôi đã quen cướp đi, và mọi bản năng của tôi bắt đầu trỗi dậy. Ham muốn được cào cấu và cắn xé xuyên qua tay và hàm tôi. Nhưng rồi nàng lại hét lên, và có cái gì đó trong tôi chuyển động, như một con bướm yếu ớt đập cánh cố thoát khỏi lớp mạng nhện. Trong phút giây chần chừ ngắn ngủi đó, trong khi mọi ký ức của chàng trai kia vẫn còn ấm nóng trong tôi, tôi đã đi đến một quyết định.

Tôi kêu lên một tiếng khe khẽ và nhích về phía cô gái, cố bắt vẻ mặt đờ đẫn của mình tỏ ra hiền từ. Tôi không phải là một kẻ vô danh. Tôi là một cậu bé chín tuổi. Tôi là một chú nhóc mười lăm tuổi. Tôi là…

Nàng ném một con dao vào đầu tôi.

Lưỡi dao cắm thẳng vào giữa trán tôi và nằm đó rung rung. Nhưng nó mới cắm sâu chưa đầy hai phân, chỉ hơi chạm vào thùy trước của não tôi. Tôi rút con dao ra và thả nó xuống đất. Tôi chìa tay ra và cố cất lên những tiếng dịu dàng, nhưng chẳng ăn thua gì. Làm sao mà tôi có vẻ không nguy hiểm cho được khi máu của người yêu nàng còn đang nhỏ xuống cằm tôi?

Tôi chỉ còn cách nàng vài bước nữa thôi. Nàng đang cuống cuồng lục trong quần bò tìm một món vũ khí khác. Sau lưng tôi, những Người Chết đã sắp kết thúc chuyến săn mồi. Chẳng mấy chốc họ sẽ nhìn về cái góc tối này. Tôi hít một hơi thật sâu.

“Ju… lie,” tôi nói.

Cái tên ấy trượt trên lưỡi tôi như mật ngọt. Chỉ thốt ra nó thôi cũng khiến tôi thấy dễ chịu hơn.

Mắt nàng mở to. Nàng sững người.

“Julie,” tôi lại nói. Tôi chìa tay ra. Tôi chỉ vào những Xác Sống sau lưng tôi. Rồi tôi lắc đầu.

Nàng nhìn tôi chằm chằm, không có vẻ gì là hiểu cả. Nhưng khi tôi chạm tay vào nàng, nàng không cử động. Và nàng cũng không tìm cách đâm tôi.

Tôi thò tay vào vết thương trên đầu một Xác Sống đã bị giết và moi ra một lòng bàn tay đầy máu đen sì, không chút sức sống. Một cách chậm rãi, nhẹ nhàng, tôi bôi thứ máu ấy lên mặt, cổ, và quần áo nàng. Nàng thậm chí còn không hề giật mình. Có lẽ nàng đã bị sốc nặng.

Tôi nắm lấy tay nàng kéo nàng đứng dậy. Đúng lúc đó thì M và những người khác ngừng ăn rồi quay nhìn khắp phòng. Mắt họ dồn vào tôi. Mắt họ dồn vào Julie. Tôi tiến về phía họ, nắm tay nàng, không hẳn là kéo nàng đi. Nàng loạng choạng bước theo tôi, mắt nhìn trân trân về phía trước.

M đánh hơi không khí vẻ ngờ vực. Nhưng tôi biết anh cũng như tôi, chẳng ngửi thấy gì cả. Chỉ là cái mùi – không – có – mùi của máu Người Chết. Máu bắn lên khắp các bức tường, ướt đẫm quần áo chúng tôi, và đã được cẩn thận bôi lên một cô gái Người Sống để che giấu sức sống rực sáng của nàng bằng cái mùi nồng nặc, tăm tối của nó.

Không nói một lời, chúng tôi ra khỏi tòa nhà cao tầng và quay về sân bay. Tôi đi tựa người trong mơ, đầu óc đầy những ý nghĩ kỳ lạ quay cuồng như trong kính vạn hoa. Julie đặt bàn tay mềm nhũn trong tay tôi khi nhìn chằm chằm vào tôi với cặp mắt mở to và đôi môi run run.

SAU KHI ĐEM VÔ SỐ MỒI SĂN còn thừa về cho những người không đi săn – đám Xương Khô, đám trẻ con, các bà mẹ ở nhà trông con – tôi dẫn Julie về nhà mình. Những Người Chết khác nhìn tôi vẻ tò mò khi tôi đi qua. Vì việc biến Người Sống thành Người Chết một cách có chủ ý đòi hỏi cả quyết tâm lẫn sự kiềm chế nó hầu như không bao giờ xảy ra. Phần lớn việc biến đổi xảy ra vì vô tình: một Xác Sống đang ăn thì bị giết hay bị sao nhãng trước khi kết thúc – voro interruptus. Những người khác trong số chúng tôi thì bị biến đổi sau những cái chết truyền thống, sau bệnh tật hay những tai nạn cá nhân hay bạo lực giữa Người Sống với Người Sống mà chúng tôi không còn quan tâm nữa. Vì vậy việc tôi chủ tâm đem cô gái này về chứ không ăn thịt là một điều bí ẩn, một phép mầu cũng ngang tầm với việc sinh nở. M và những người khác tránh xa tôi trong hành lang, mắt nhìn tôi vẻ bối rối và dò hỏi. Họ mà biết thật ra tôi đang làm gì thì phản ứng của họ sẽ không… ôn hòa đến thế đâu.

Vẫn nắm chặt tay Julie, tôi vội vã đưa nàng tránh xa những con mắt tò mò. Tôi dẫn nàng đến Cổng 12, đi xuôi theo đường hầm lên máy bay, và vào nhà mình: một chiếc máy bay phản lực 747. nó không rộng lắm, sắp xếp mặt bằng cũng không tiện lợi, nhưng nó là chỗ tách biệt nhất trong sân bay, và tôi thích sự riêng tư. Đôi khi nó còn kích thích được cả ký ức mù mờ của tôi nữa. Cứ nhìn vào quần áo thì tôi có vẻ là người thường xuyên đi xa. Thỉnh thoảng khi “ngủ” ở đây, tôi lại thấy cái cảm giác lên cao dần khi ta đang bay, cảm nhận được luồng khí lạnh phả vào mặt và vị buồn nôn của cái bánh mì kẹp ỉu xìu. Rồi tôi nhớ ra được cả vị chanh tươi mát của món poisson ở Paris. Vị gắt của món tajine ở Morocco. Giờ những nơi ấy đã biến mất cả rồi ư? Các con phố hiu quạnh, các quán cà phê đầy những bộ xương bụi bặm?

Julie và tôi đứng nhìn nhau ở lối đi giữa máy bay. Tôi chỉ vào một cái ghế ở gần cửa sổ và nhướng mát. Không rời mắt khỏi tôi, nàng lùi dần vào trong hàng ghế và ngồi xuống. Nàng nắm chặt chỗ để tay như thể cái máy bay đang lao đầu xuống đất.

Tôi ngồi xuống cái ghế gần lối đi và buột ra một tiếng khò khè, trong khi mắt vẫn nhìn thẳng vào đống đồ lưu niệm của tôi. Mỗi khi vào thành phố tôi lại đem về một thứ gì đó lọt vào mắt mình. Một bộ xếp hình. Một cái chén uống rượu. Một con búp bê Barbie. Một cái dương vật giả. Hoa. Tạp chí. Sách. Tôi đem chúng về nhà ném lên ghế, lên lối đi, rồi ngắm chúng hàng giờ. Đống đồ đã lên đến tận trần máy bay. M thường hỏi tôi tại sao lại làm thế. Tôi không có câu trả lời.

“Không… ăn,” tôi lầm bầm với Julie, nhìn thằng vào mắt nàng. “Tôi sẽ… không ăn.”

Nàng nhìn tôi không chớp. Môi nàng tái mét, mím chặt.

Tôi chỉ vào nàng. Tôi mở miệng và chỉ vào hàm răng xiên xẹo, loang lổ máu của mình. Tôi lắc đầu. Nàng ép chặt lưng vào cửa sổ. Một tiếng rên sợ hãi dâng lên trong họng nàng. Làm thế này không có tác dụng rồi.

“An toàn,” tôi nói, thở ra một hơi dài. “Bảo vệ cô… an toàn.”

Tôi đứng dậy đi qua chỗ máy quay đĩa. Tôi lục tìm trong đống đĩa than cất ở ngăn đựng đồ trên đầu và lấy ra một cái. Tôi đem đôi tai nghe về chỗ ghế đeo lên tai Julie. Nàng vẫn ngồi cứng đờ, mắt mở trừng trừng.

Đĩa bắt đầu chơi. Là Frank Sinatra. Tôi có thể nghe thấy tiếng nhạc văng vẳng qua đôi tai nghe, như một bản điếu văn xa xăm vang tới qua bầu trời thu.

Đêm qua… khi chúng ta còn trẻ.

Tôi nhắm mắt lại, ngả người về phía trước. Đầu tôi đu đưa theo nhịp nhạc trong khi những khúc hát bay bổng quanh khoang máy bay, hòa lẫn vào nhau trong tai tôi.

Cuộc sống tươi mới xiết bao… chân thực xiết bao, đúng đắn xiết bao…

“An toàn,” tôi lầm bầm. “Bảo vệ cô… an toàn.”

… đã lâu lắm rồi… từ đêm qua…

Khi tôi mở mắt, nét mặt Julie đã thay đổi. Vẻ kinh hoàng đã dần biến mất, và nàng nhìn tôi đầy sửng sốt.

“Anh là cái gì?” nàng thì thào.

Tôi quay đầu đi. Tôi đứng lên ra khỏi máy bay. Ánh mắt sững sờ của nàng đi theo tôi đến tận hết đường hầm.

Trong bãi đỗ xe của sân bay, có một chiếc Mercedes mui trần kiểu cổ điển mà tôi đã loay hoay tìm hiểu từ mấy tháng nay. Sau khi ngắm nghía nó hàng tuần, cuối cùng tôi cũng phát hiện ra cách đổ đầy bình xăng từ một thùng xăng ổn định[1] tôi tìm thấy trong phòng bảo quản. Rồi tôi nhớ ra cách vặn chìa khóa và khởi động xe, sau khi đã đẩy cái xác khô đét của người chủ xe xuống vệ đường. Nhưng tôi không biết làm cách nào để lái xe. Tôi mới chỉ có thể lùi nó ra khỏi chỗ đậu và lao thẳng vào một chiếc Hummer cạnh đó. Thỉnh thoảng tôi cứ để cho máy chạy và ngồi trong xe, tay đề hờ trên vô lăng, ước sau một ký ức thực sự sẽ hiện ra trong đầu mình. Không phải là một ấn tượng mờ ảo hay một ý thức nhạt nhòa đó đánh cắp được từ tiềm thức chung. Một điều gì đó cụ thể, sáng chói, đầy sức sống. Một điều gì đó chắc chắn là của tôi, không lầm lẫn được. Tôi gồng mình cố lôi ký ức ấy ra khỏi bóng tối.

[1] Xăng đã được loại bỏ hyđrô cacbon dễ bay hơi để có thể giữ được lâu hơn.

Tối hôm đó tôi gặp M ở nhà anh trong phòng vệ sinh nữ. Anh đang ngồi trước chiếc ti vi cắm vào một đoạn dây nối dài, há hốc mồm xem một bộ phim *** nhẹ mà anh tìm được trong hành lý của một người chết nào đó. Tôi không hiểu sao anh lại làm việc này. Phim khiêu *** với chúng tôi chẳng có ý nghĩa gì nữa. Máu không còn chảy, đam mê không còn dâng lên nữa. Tôi đã từng bắt gặp M với các “bạn gái” của anh, nhưng họ chỉ trần trụi đứng đó, nhìn nhau, thỉnh thoảng cọ người vào nhau nhưng có vẻ hết sức mệt mỏi và hoang mang. Có thể đó là một kiểu giãy chết. Một tiếng vọng xa xăm của cái nhân tố lớn lao từng khơi mào bao cuộc chiến và tạo cảm hứng cho bao bản nhạc giao hưởng, cái nhân tố từng kéo loài người ra khỏi cảnh ăn lông ở lỗ và đưa chúng ta vào vũ trụ. M có thể vẫn đang cố níu kéo, nhưng những ngày ấy đã qua lâu rồi. Tình dục, từng có thời là một định luật không thể phủ nhận được cũng như trọng lực, giờ đã bị bác bỏ. Phương trình đã bị xóa mất, tấm bảng đen đã vỡ nát.

Đôi khi như thế lại hơn. Tôi vẫn còn nhớ sự ham muốn, sự thèm khát không sao thỏa mãn được đã thống trị cả đời tôi và cuộc sống của những người quanh tôi. Đôi khi tôi thấy mừng vì đã thoát được nó. Giờ ít rắc rối hơn. Nhưng mất đi thứ này, cái đam mê cơ bản nhất của loài người, cũng đồng nghĩa với việc chúng tôi đã mất đi tất cả mọi thứ. Nó khiến mọi thứ yên tĩnh hơn. Đơn giản hơn. Và nó là một trong những dấu hiệu chắc chắn nhất chứng tỏ chúng tôi đã chết.

Tôi đừng ngoài ngưỡng cửa nhìn M. Anh ngồi trên chiếc ghế xếp nhỏ bằng kim loại, tay kẹp giữa hai đầu gối như một chú nhóc đang phải đối mặt với thầy hiệu trưởng. Có những lúc tôi gần như có thể thoáng nhìn thấy bên dưới lớp da thịt đang thối rữa kia con người ngày xưa của anh, và nó khiến tim tôi nhói đau.

“Có… đem đến không?” anh hỏi, mắt không rời ti vi.

Tôi giơ cái mình đang cầm trong tay lên. Một bộ óc tươi đem về từ chuyến đi săn hôm nay, không còn ấm nữa những vẫn còn hồng nguyên và râm ran sức sống.

Chúng tôi ngồi dựa lưng vào bức tường gạch nhà vệ sinh, chân duỗi ra trước mặt, chuyển bộ óc qua lại, thong dong cắn từng miếng nhỏ, thưởng thức những lát cắt trải nghiệm của đời người.

“Ngon… thật,” M khò khè.

Bộ óc chứa đựng ký ức của một gã lính quèn nào đó từ thành phố. Tôi không thấy cuộc sống của hắn thú vị cho lắm, chỉ toàn tập luyện, ăn uống, hạ Xác Sống, lặp đi lặp lại không ngừng, nhưng M thì lại có vẻ thích. Khẩu vị của anh không tinh tế bằng tôi. Tôi ngắm miệng anh thốt ra những lời câm lặng. Tôi ngắm những sắc thái tình cảm lần lượt hiển hiện lên khuôn mặt anh. Giận dữ, sợ hãi, vui sướng, khát khao. Giống như ngắm một con chó co giật và rên rỉ trong mơ vậy, nhưng đáng thương hơn nhiều. Khi anh tỉnh dậy, tất cả những điều đó sẽ biến mất. Anh sẽ lại trống trơn như trước. Anh sẽ lại là kẻ đã chết.

Sau khoảng một, hai tiếng, chúng tôi chỉ còn lại một mẩu mô nhỏ hồng hồng. M bỏ tọt nó vào miệng và đồng tử mắt anh mở rộng trong khi anh chìm đắm trong ký ức ấy. Bộ óc đã hết, nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn. Tôi len lén thò tay vào túi lấy ra một mẩu não to bằng nắm tay mà tôi đã để dành. Nhưng đây là bộ não khác. Bộ não này đặc biệt hơn nhiều. Tôi cắn một miếng, và bắt đầu nhai.

Tôi là Perry Kelvin, một chàng trai mười sáu tuổi, đang ngắm bạn gái mình viết nhật ký. Bìa da đen của quyển sổ đã sờn rách, còn bên trong thì là một mê cung đầy những dòng chữ nghệch ngoạc, những hình vẽ linh tinh, những mẩu thư ngắn, những lời trích dẫn. Tôi đang ngồi trên ghế với bản in đầu tiên còn giữ lại được của cuốn Trên đường, lòng mong mỏi được sống trong bất kỳ thời đại nào khác ngoài thời này, còn nàng thì nằm cuộn tròn trong lòng tôi, tay viết lia lịa. Tôi ngó qua vai nàng, cố đọc một dòng. Nàng giấu quyển nhật ký đi và tủm tỉm cười với tôi. “Không được,” nàng nói và quay lại với quyển nhật ký.

“Em đang viết gì thế?”

“Khôôôông nói đââââu.”

“Nhật ký hay là thơ?”

“Cả hai, ngốc ạ.”

“Có anh trong đấy không?”

Nàng cười.

Tôi vòng tay quanh vai nàng. Nàng dựa sát vào tôi thêm chút nữa. Tôi vùi mặt vào tóc nàng và hôn lên đầu nàng. Mùi dầu gội nồng đượm của nàng…

M đang nhìn tôi. “Cậu… còn nữa à?” anh gầm gừ. Anh chìa tay ra để tôi cho một miếng. Nhưng tôi không cho. Tôi cắn một miếng nữa. Tôi nhắm mắt lại.

“Perry này,” Julie nói.

“Gì cơ.”

Chúng tôi đang ở chỗ bí mật của mình trên mái Sân vận động. Chúng tôi nằm ngửa ra trên một tấm chăn đỏ trải trên những tấm sắt trắng, nheo mắt ngắm bầu trời xanh ngăn ngắt.

“Em nhớ máy bay,” nàng nói.

Tôi gật đầu. “Anh cũng thế.”

“Không phải là em nhớ cảm giác được đi máy bay đâu. Dù sao thì vì bố như thế nên em cũng chưa được đi máy bay bao giờ. Em chỉ nhớ máy bay thôi. Tiếng ì ầm ở đằng xa, những tia khói trắng… cách chúng lao qua bầu trời và vạch nên những đường nét ấy mà? Mẹ em hay nói trông nó giống như một tấm bảng vẽ ấy. Đẹp lắm.”

Tôi mỉm cười trước ý nghĩ ấy. Nàng nói đúng. Máy bay rất đẹp. Pháo hoa cũng vậy. Cả hoa nữa. Các buổi ca nhạc. Diều. Những điều xa xỉ nho nhỏ mà chúng tôi không còn nữa.

“Anh thích cách em nhớ đến mọi thứ,” tôi nói.

Nàng nhìn tôi. “Thì chúng ta phải nhớ chứ. Chúng ta phải nhớ tất cả mọi thứ. Nếu không thì đến khi chúng ta lớn, tất cả sẽ biến mất vĩnh viễn.”

Tôi nhắm mắt lại để cho ánh sáng chói lọi chiếu đỏ ngầu qua mí mắt mình. Tôi để nó ngấm vào não mình. Tôi quay đầu lại và hôn Julie. Chúng tôi đã ân ái trên tấm chăn ấy trên mái Sân vận động, cách mặt đất hai trăm bốn mươi mét. Mặt trời trông chừng cho chúng tôi, dịu dàng mỉm cười như một người hộ tống tốt bụng.

“Này!”

Mắt tôi bật mở. M đang nhìn tôi trừng trừng. Anh thò tay định chộp mẩu óc trên tay tôi, nhưng tôi giật đi.

“Không,” tôi gầm gừ.

Tôi đoán M là bạn tôi, nhưng tôi thà giết anh còn hơn là để anh nếm được cái này. Nghĩ đến cảnh những ngón tay nhếch nhác của anh chọc ngoáy, mò mẫm vào những ký ức này, tôi chỉ muốn xé toạc lồng ngực anh và bóp chặt tim anh trong tay mình, giẫm nát óc anh cho đến kho anh không còn tồn tại nữa. Nó là của tôi.

M nhìn tôi. Anh nhận ra sự cảnh báo trong mắt tôi, nghe thấy tiếng còi hụ báo động như khi có máy bay ném bom. Anh buông tay xuống. Anh nhìn tôi một hồi lâu, vẻ khó chịu và bối rối. “Ki… bo,” anh lầm bầm, và khóa cửa tự nhốt mình vào một buồng vệ sinh.

Tôi rời khỏi nhà vệ sinh với bước chân quyết đoán khác thường. Tôi chui qua cửa chiếc 747 và đứng đó trong khuôn cửa ô van mờ sáng. Julie đang nằm trên một chiếc ghế ngả về sau, khe khẽ ngáy. Tôi gõ nhẹ lên thân máy bay, và nàng ngồi bật dậy, tỉnh ngay lập tức. Nàng nghi ngại nhìn tôi trong khi tôi lại gần. Mắt tôi lại cay sè. Tôi nhặt cái túi của nàng từ dưới sàn lên và lục tìm bên trong. Tôi lôi ra ví của nàng, tìm thấy trong đó một tấm ảnh. Chân dung một chàng trai. Tôi giơ tấm ảnh lên ngang tầm mắt nàng.

“Tôi… xin lỗi,” tôi cất tiếng khàn khàn.

Nàng nhìn tôi, mặt không biểu cảm.

Tôi chỉ vào miệng mình. Tôi ôm bụng. Tôi chỉ vào miệng nàng. Tôi chạm vào bụng nàng. Rồi tôi chỉ ra ngoài cửa sổ, chỉ bầu trời đen không một gợn mây, đầy những ngôi sao tàn nhẫn. Đó là lời bào chữa kém kỏi nhất trên đời cho tội sát nhân, nhưng tôi chỉ có thế. Tôi nghiến răng và nhắm nghiền mắt, cố làm dịu cảm giác cay xé.

Môi dưới của Julie đanh lại. Mắt nàng đỏ hoe, ướt lệ. “Ai trong số các anh đã làm thế?” nàng nói, giọng như sắp vỡ òa. “Có phải là tên to con ấy không? Cái tên béo ị đã suýt nữa bắt được tôi ấy?”

Tôi nhìn nàng trân trân hồi lâu, không hiểu các câu hỏi của nàng. Rồi tôi chợt hiểu ra, và mắt tôi mở to.

Nàng không biết kẻ đó chính là tôi.

Căn phòng ấy rất tối và tôi đã tấn công từ phía sau. Nàng không nhìn thấy tôi. Nàng không biết. Cặp mắt sắc sảo của nàng nhìn nhận tôi là một sinh vật xứng đáng được nhìn nhận chứ không hề biết tôi mới giết người yêu của nàng, nuốt trọn sự sống của gã, tiêu hóa linh hồn gã, và ngay lúc này đây trong túi quần tôi vẫn còn một mẩu óc ngon lành của gã. Tôi có thể cảm thấy nó đốt cháy quần tôi như một cục than hồng tội lỗi, và tôi lùi lại theo phản xạ, không thể hiểu nổi sự may mắn quái gở này.

“Tại sao lại là tôi?” nàng hỏi, chớp mắt ứa ra một giọt lệ giận dữ. “Tại sao anh lại cứu tôi?” Nàng quay lưng lại với tôi và co rúm trên ghế, vòng hai tay ôm lấy vai. “Trong tất cả mọi người…” nàng vùi mặt vào đệm ghế mà nói. “Tại sao lại là tôi.”

Đó là những câu hỏi đầu tiên của nàng. Không phải là những câu liên quan đến sự an toàn của bản thân nàng, cũng không phải là điều bí hiểm tại sao tôi lại biết tên nàng cũng như cái viễn cảnh khủng khiếp về những gì tôi định làm với nàng nàng không vội thỏa mãn những sự hiếu kỳ đó. Câu hỏi đầu tiên của nàng là dành cho những người khác. Bạn của nàng, người yêu của nàng, tự hỏi tại sao nàng không thể thế chỗ họ.

Tôi là đồ hèn hạ nhất trên đời. Tôi đang ở đáy cùng vũ trụ.

Tôi thả rơi bức ảnh lên ghế và nhìn xuống sàn. “Tôi… xin lỗi,” tôi nhắc lại, và rời máy bay.

Khi tôi ra khỏi đường hầm lên máy bay, có mấy Người Chết đang đứng ở gần cửa. Họ nhìn tôi vô cảm. Chúng tôi im lặng đứng đó bất động như những pho tượng. Rồi tôi đi qua họ lang thang vào trong dãy hành lang tăm tối.

MẶT ĐƯỜNG RẠN NỨT kêu lọc xọc dưới bánh xe tải của chúng tôi. Nó làm tình làm tội bộ giảm xóc kẽo kẹt của chiếc xe Ford cũ kỹ, khiến cái xe rít lên như một tiếng gầm gừ tức giận bị nén lại. Tôi đưa mắt nhìn bố. Trông ông già hơn so với trong trí nhớ của tôi. Yếu ớt hơn. Ông nắm chặt vô lăng. Các đốt ngón tay của ông trắng bệch ra.

“Bố ơi?” tôi gọi.

“Gì, Perry.”

“Mình đi đâu bây giờ?”

“Đến chỗ an toàn.”

Tôi nhìn ông chăm chú. “Có còn chỗ nào an toàn không?”

Ông ngập ngừng, ngập ngừng quá lâu. “Đâu đó an toàn hơn.”

Sau lưng chúng tôi, trong thung lũng nơi chúng tôi thường đi bơi và hái dâu, ăn pizza và đi xem phim, thung lũng nơi tôi đã ra đời và lớn lên và khám phá ra tất cả những điều có trong tôi lúc này, khói đang cuồn cuộn bốc lên. Cây xăng nơi tôi mua Coca ướp lạnh đang bốc cháy. Cửa sổ trường cấp một của tôi đã vỡ vụn. Đám trẻ con trong bể bơi công cộng lúc này không bơi.

“Bố ơi?” tôi gọi.

“Gì.”

“Mẹ có sống lại không?”

Bố tôi cuối cùng cũng quay sang nhìn tôi, nhưng không nói gì.

“Sống lại như một trong số bọn chúng ấy?”

Ông quay lại nhìn đường. “Không.”

“Nhưng con tưởng là mẹ sống lại. Con tưởng giờ ai cũng sống lại.”

“Perry,” bố tôi nói, lời hầm hè gần như không thốt ra khỏi họng. “Bố đã giải quyết chuyện đó rồi. Vì thế mẹ sẽ không sống lại.”

Những nếp nhăn hằn sâu trên mặt ông vừa mê hoặc tôi vừa khiến tôi ghê sợ. Giọng tôi nghẹn lại. “Tại sao hả bố?”

“Vì mẹ con đã chết rồi. Không ai sống lại cả. Không hẳn. Con có hiểu không?”

Những bụi cây lè tè và những ngọn đồi trọc trước mặt bắt đầu nhòe đi trong mắt tôi. Tôi cố tập trung nhìn vào kính chắn gió, nhìn những con bọ nát bấy và những vết rạn nhỏ xíu. Nhưng cả những thứ đó cũng nhòe đi.

“Hãy nhớ về mẹ,” Bố tôi nói. “Nhớ hết những điều con có thể, nhớ được lâu chừng nào hay chừng đấy. Mẹ sẽ sống lại như thế. Chúng ta khiến mẹ sống mãi. Chứ không phải là một lời nguyền oái ăm nào hết.”

Tôi nhìn mặt bố, cố dò đọc sự thật trong cặp mắt nheo lại của ông. Tôi chưa bao giờ nghe ông nói như vậy.

“Thân xác chỉ là thịt thà thôi,” ông nói. “Cái phần đáng kể nhất của mẹ… chúng ta được giữ nó.”

“Julie.”

“Gì cơ?”

“Lại đây. Nhìn xem.”

Gió thổi lật phật qua những tấm kính vỡ bao quanh bệnh viện nơi chúng tôi đang tìm kiếm đồ đạc. Julie bước đến bên mép cửa sổ với tôi và nhìn xuống.

“Nó đang làm gì thế?”

“Anh không biết.”

Trên con phố phủ tuyết bên dưới, một Xác Sống đơn độc đang đi thành vòng tròn. Nó va vào một chiếc ô tô, loạng choạng, rồi chậm rãi lùi về phía một bức tường, và quay lưng đi theo hướng khác. Nó không kêu lên một tiếng nào và có vẻ như không nhìn ngó gì cả. Julie và tôi nhìn nó một lát.

“Em không thích thế này,” nàng nói.

“Ừ.”

“Nhìn… buồn quá.”

“Ừ.”

“Nó bị sao thế nhỉ?”

“Chịu.”

Xác Sống đó đứng lại ở giữa phố, người lảo đảo. Mặt nó không có chút biểu hiện nào. Chỉ là một lớp da phủ lên hộp sọ.

“Em không biết cảm giác đó như thế nào,” nàng nói.

“Cái gì cơ?”

“Khi biến thành chúng ấy.”

Tôi quan sát Xác Sống nọ. Nó bắt đầu lảo đảo mạnh hơn, rồi gục xuống. Nó nằm nghiêng ở đó, mắt nhìn vỉa hè phủ băng, và không hề cử động.

“Nó đang…?” Julie lên tiếng, rồi ngưng lại. Nàng mở to mắt nhìn tôi, rồi quay lại nhìn cái xác rúm ró nằm kia. “Có phải nó vừa chết không?”

Chúng tôi im lặng chờ đợi. Cái xác không nhúc nhích. Tôi thấy một cảm giác run rẩy đâu đó trong sâu thẳm, như có những vật nhỏ xíu đang bò dọc cột sống.

“Đi thôi,” Julie nói và quay đi. Tôi theo nàng vào trong bệnh viện. Suốt chặng đường về nhà chúng tôi không nghĩ ra điều gì để nói.

Dừng lại.

Hãy hít những hơi thở vô ích ấy đi. Hãy vứt bỏ cái mẩu sự sống mi đang đưa lên miệng đây. Mi đang ở đâu? Mi đã ở đây bao lâu rồi? Dừng lại ngay. Mi phải dừng lại.

Nhắm nghiền đôi mắt cay sè của mi lại, và hãy cắn một miếng nữa.

SÁNG HÔM SAU, vợ tôi tìm thấy tôi ngồi gục bên một trong những ô cửa sổ cao từ sàn đến trần nhìn ra đường băng. Mắt tôi mở to, đầu bám bụi. Đầu tôi ngoẹo sang một bên. Ít khi tôi để cho mình trông giống xác chết thế này.

Có gì đó không ổn với tôi. Trong bụng tôi có cảm giác trống rỗng nôn nao, cảm giác pha trộn giữa cơn đói xé ruột xé gan và cơn say chuếnh choáng. Vợ tôi túm lấy tay tôi kéo tôi đứng dậy. Cô ta bước đi, lôi theo tôi phía sau như một cái va li kéo. Tôi cảm thấy cơm giận nóng rực tràn qua người, và tôi cất tiếng nói với cô ta. “Tên,” tôi nói, gườm gườm nhìn tai cô ta. “Tên?”

Cô ta ném cho tôi một cái nhìn lạnh lùng và tiếp tục bước.

“Việc làm? Trường?” Giọng tôi chuyển từ tra hỏi sang chất vấn. “Phim? Bài hát?” Những câu hỏi trào ra khỏi miệng tôi như dầu trào ra khỏi một ống dẫn bị vỡ. “Sách?” tôi quát lên. “Tranh? Thức ăn? Nhà? Tên?”

Vợ tôi quay lại và nhổ vào tôi. Nhổ vào áo tôi thực sự, gầm gừ như một con thú. Nhưng ánh mắt cô ta khiến cơn giận của tôi nguội lạnh ngay tức khắc. Cô ta đang… sợ. Môi cô ta run lên. Tôi đang làm gì thế này?

Tôi nhìn xuống sàn. Chúng tôi đứng im lặng mấy phút. Rồi cô ta đi tiếp, và tôi đi theo, cố rũ bỏ đám mây đen kỳ lạ đã bao trùm lấy tôi.

Vợ tôi dẫn tôi đến một quầy hàng lưu niệm trống trơn đã bị thiêu trụi và rên lên một tiếng to. Hai đứa con chúng tôi bước ra từ sau một giá sách bị đổ, đầy những cuốn sách bán chạy nhất sẽ không được ai đọc. Mỗi đứa đang gặm một cánh tay người, đã hơi ngả màu nâu ở đầu, không còn tươi nữa.

“Lấy… ở đâu?” tôi hỏi chúng. Chúng nhún vai. Tôi quay sang bảo vợ tôi. “Cần thứ… tốt hơn.”

Vợ tôi nhíu mày và chỉ vào tôi. Cô ta gừ gừ vẻ bực bội, và mặt tôi xịu xuống vì bị mắng một cách chính đáng. Đúng là tôi đã không tỏ ra là một ông bố giàu trách nhiệm. Liệu ta có thể mắc phải chứng khủng hoảng tuổi trung niên không, khi mà ta không biết mình bao nhiêu tuổi? Tôi có thể khoảng ba mươi tuổi, hoặc mười tám mười chín. Có khi tôi trẻ hơn Julie cũng nên.

Vợ tôi hực lên một tiếng với bọn trẻ và chỉ về phía hành lang. Chúng gục đầu xuống và phát ra một tiếng than thở khò khè, nhưng vẫn đi theo chúng tôi. Chúng tôi đang đưa chúng đến trường lần đầu tiên.

Một số người trong chúng tôi, có lẽ cũng chính là những Người Chết chăm chỉ đã xây nên cái nhà thờ bằng bậc thang của đám Xương Khô, đã dựng cả một “phòng học” trong khu ăn uống bằng cách xếp các va li nặng thành những bức tường cao. Khi tôi và vợ con lại gần, chúng tôi nghe thấy những tiếng rên rỉ và kêu la phát ra từ trong đấu trường ấy. Trước cửa ra vào là một đám trẻ con đứng xếp hàng chờ tới lượt. Vợ chồng tôi dẫn hai đứa con đến cuối hàng rồi đứng xem bài học đang diễn ra.

Năm đứa bé Người Chết đang vây quanh một Người Sống gầy còm, tuổi cỡ trung niên. Ông ta lùi về phía đống hành lý, luống cuống nhìn phải nhìn trái, hai bàn tay trống không cuộn lại thành nắm đấm. Hai đứa bé xông vào cố túm tay ông ta kéo xuống, nhưng ông ta đẩy chúng ra. Đứa thứ ba cắn một mẩu ở vai ông ta và người đàn ông thét lên như bị một vết thương chí tử, bởi vì quả thực là như vậy. Từ bị Xác Sống cắn, cho tới chết đói, cho tới tuổi già và bệnh tật thông thường, có rất nhiều cách để chết trong thế giới mới này. Có rất nhiều cách khiến Người Sống gục ngã. Nhưng ngoại trừ một số người bị ăn hết hoặc mất não, tất cả mọi con đường đều dẫn đến chúng tôi, những Người Chết, và cuộc sống bất tử chẳng lấy gì làm huy hoàng của chúng tôi.

Sự biến đổi sắp tới khiến người đàn ông kia như đờ đẫn cả đi. Một đứa bé cắn ngập răng vào đùi ông ta, nhưng ông ta còn chẳng thèm giật mình nữa, mà chỉ cúi xuống và đập đầu nó bằng cả hai nắm tay cho tới khi sọ nó sụp xuống và cổ nó gãy đánh đốp một tiếng. Nó loạng choạng lùi ra, mặt cau có, đầu vẹo sang một bên.

“Sai!” thầy giáo của chúng quát. “Cắn… cổ!”

Bọn trẻ lùi lại và cảnh giác quan sát người đàn ông.

“Cổ!” thầy giáo nhắc lại. Rồi thầy và viên trợ giảng lê bước vào đấu trường, chồm lên người đàn ông, dúi ông ta xuống đất. Thầy giáo giết người đàn ông và đứng dậy, máu chảy ròng ròng xuống cằm. “Cổ,” thầy lại nói, đưa tay chỉ cái xác.

Năm đứa trẻ ngượng ngùng đi ra, và năm đứa tiếp theo được đẩy vào phòng. Hai đứa con tôi ngước lên nhìn tôi vẻ lo lắng. Tôi vỗ đầu chúng.

Chúng tôi nhìn người chết bị kéo ra để ăn, và người tiếp theo bị lôi vào phòng học. Người này đã già, tóc đã bạc, nhưng rất to con, có lẽ trước kia từng là nhân viên An ninh. Phải đến ba người đàn ông mới có thể lôi ông ta vào đấu trường một cách an toàn. Họ ném ông ta vào một góc rồi đứng canh ở cửa ra vào.

Năm đứa bé trong phòng có vẻ lo ngại, nhưng thầy giáo quát lên ra lệnh cho chúng, và chúng bắt đầu tấn công. Khi đến gần, cả năm đứa xông vào cùng một lúc, hai đứa giữ hai tay người đàn ông, còn đứa thứ năm cắn cổ. Nhưng ông già khỏe đến không ngờ. Ông ta xoay người ném mạnh hai đứa về phía bức tường xây bằng va li. Cú va đập khiến bức tường rung lên, và một chiếc va li kim loại nặng đổ từ trên xuống. Người đàn ông cầm chiếc va li, giơ nó lên cao, rồi đập mạnh xuống đầu một đứa trẻ. Sọ nó vỡ nát, não bắn ra ngoài. Nó không hề kêu hay co giật hay run rẩy, nó chỉ co rúm lại thành một đám chân tay sõng soài trên mặt đất như thể nó đã chết từ nhiều tháng nay rồi. Rốt cuộc thì cái chết cũng đã bắt được nó với sự chấm hết muộn màng.

Cả lớp im phăng phắc. Bốn đứa trẻ còn lại lùi ra khỏi đấu trường. Không ai để ý đến mấy người lớn chạy vào trong để xử lý ông già kia. Tất cả chúng tôi đều nhìn cái xác rúm ró của đứa bé với vẻ rầu rĩ cam chịu. Chúng tôi không thể biết ai trong số những người lớn đang tập hợp ở đây là bố mẹ nó, vì vẻ mặt chúng tôi ai cũng như nhau. Cho dù họ là ai thì họ cũng sẽ sớm quên nỗi mất mát này thôi. Chỉ đến mai là đám Xương Khô sẽ xuất hiện với một đứa trẻ khác để thay thế đứa này. Chúng tôi lúng túng im lặng mấy giây để tưởng niệm đứa bé mới bị giết, rồi lớp học lại tiếp tục. Mấy bậc phụ huynh đưa mắt nhìn nhau, tự hỏi không biết cái vòng tròn cuộc sống méo mó đảo lộn này có nghĩa là gì. Hoặc có khi chỉ là tôi tưởng tượng ra thế thôi.

Sắp đến lượt hai đứa con tôi. Chúng chăm chú theo dõi bài học, thỉnh thoảng còn rướn chân lên để nhìn, nhưng chúng không tỏ vẻ sợ hãi. Chúng bé hơn những đứa khác, và có lẽ sẽ chỉ phải đối mặt với một người đã quá yếu không còn chống cự nổi nữa, nhưng chúng không biết điều này, và đó cũng không phải là lý do chúng không thấy sợ. Khi cả thế giới được dựng nên bởi cái chết và sự kinh hoàng, khi cuộc sống chỉ là một tình trạng hoảng loạn không bao giờ ngừng, thì ta khó có thể lo lắng chỉ vì một điều duy nhất. Những nỗi sợ cụ thể đã chẳng còn quan trọng gì. Chúng tôi đã thay thế chúng bằng một tấm chăn bóp nghẹt khủng khiếp hơn nhiều.

Tôi đi đi lại lại cả giờ đồng hồ trước đường hầm dẫn vào chiếc 747 rồi mới bước vào. Tôi khe khẽ mở cửa máy bay ra. Julie đang nằm cuộn tròn trên ghế ở khoang hạng thương gia, ngủ say. Nàng đã quấn mình trong một chiếc chăn chắp vá từ những mảnh vải quần bò mà tôi đem về làm kỷ niệm mấy tuần trước. Ánh mặt trời chiếu lên mái tóc óng vàng của nàng như vầng hào quang quanh đầu một vị thánh.

“Julie,” tôi thì thào.

Mắt nàng hé mở. Lần này nàng không ngồi bật dậy hay tránh ra khỏi tôi nữa. Nàng chỉ nhìn tôi bằng cặp mắt sưng húp, mệt mỏi. “Cái gì,” nàng lầm bầm.

“Cô… thế…?”

“Anh nghĩ là tôi thế nào.” Nàng xoay lưng lại với tôi và kéo chăn lên vai.

Tôi đứng nhìn nàng hồi lâu. Dáng nằm của nàng đúng là một bức tường gạch. Tôi cúi đầu xuống và quay lưng đi. Nhưng khi tôi bước qua ngưỡng cửa, nàng nói, “Đợi đã.”

Tôi quay lại. Nàng đã ngồi lên, tấm chăn cuộn tròn trong lòng. “Tôi đói,” nàng nói.

Tôi trố mắt nhìn nàng. Đói ấy à? Nàng muốn một cánh tay hay một cái chân ư? Máu nóng hôi hổi, thịt tươi và sự sống ư? Nàng là Người Sống… nàng muốn ăn chính mình sao? Rồi tôi nhớ ra trước kia đói nghĩa là gì. Tôi nhớ ra thịt bò bít tết và bánh kếp, cơm và hoa quả và rau, cái kim tự tháp ngồ ngộ về hình các nhóm thức ăn. Đôi khi tôi cũng thèm được thưởng thức mùi vị, thay vì chỉ ngốn ngấu nuốt năng lượng, nhưng tôi cố không nghĩ nhiều đến nó. Những thứ thức ăn cũ không thể làm dịu cơn đói của chúng tôi nữa. Ngay cả thịt tươi roi rói từ một con thỏ hay hươu mới bị giết cũng không xứng với tiêu chuẩn ăn uống của chúng tôi năng lượng đồ ăn kiểu ấy cung cấp không hợp với chúng tôi, cũng giống như là chạy máy vi tính bằng dầu diesel vậy. Chúng tôi không có cách giải quyết dễ dàng nào khác, không có sự thay thế nhân đạo nào khác dành cho những kẻ có lương tâm theo thời. Cơn đói mới đòi hỏi sự hy sinh. Nó đòi hỏi nỗi đau đớn của con người để đổi lấy khoái lạc của chúng tôi, cho dù những khoái lạc ấy có ít ỏi và rẻ rúng đến thế nào.

“Thức ăn ấy mà?” Julie nhắc tôi. Nàng làm bộ cắn một miếng. “Bánh mì kẹp? Pizza? Cái gì không liên quan đến giết người ấy?”

Tôi gật đầu. “Tôi sẽ… lấy.”

Tôi quay đi nhưng nàng giữ tôi lại.

“Hãy thả cho tôi đi,” nàng nói. “Anh đang làm cái gì vậy? Tại sao anh lại nhốt tôi ở đây?”

Tôi nghĩ một lát. Tôi đến bên cửa sổ chỗ nàng ngồi và chỉ lên đường băng bên dưới. Nàng nhìn, và thấy lễ nhà thờ đang tiến hành. Thấy đám Người Chết, người lảo đảo, miệng rên rỉ. Thấy những bộ xương khô kêu lắc rắc không lời nhưng lại đầy sức hấp dẫn khó hiểu, hàm răng nứt rạn của chúng nghiến kèn kẹt. Dưới đó có đến hàng chục người tụ họp lại.

“Bảo vệ cô… an toàn.”

Từ ghế ngồi, nàng ngước lên nhìn tôi bằng ánh mắt tôi không đọc nổi. Mắt nàng nheo lại và môi nàng mím chặt, nhưng không hẳn là vì giận dữ. “Sao anh biết tên tôi?” nàng gặng hỏi.

Thế đấy. Tôi biết kiểu gì nó cũng phải đến mà.

“Trong tòa nhà ấy. Anh đã gọi tên tôi, tôi còn nhớ. Làm thế quái nào mà anh lại biết tên tôi?”

Tôi không tìm cách trả lời. Không có cách nào để giải thích những điều tôi biết và làm sao tôi lại biết được chúng, nhất là với vốn từ như trẻ mẫu giáo và kiểu phát âm thiểu năng của tôi. Vì vậy tôi lùi lại, ra khỏi máy bay và đi xuôi theo đường hầm, trong lòng cảm thấy rõ rệt hơn bao giờ hết sự kém cỏi ở bản chất của mình.

Khi tôi đứng ở Cổng số 12 tự hỏi không biết nên đi đâu, tôi thấy có ai đó chạm vào vai mình. Julie đang đứng sau lưng tôi. Nàng nhét tay vào chiếc quần bò bó màu đen nàng đang mặc, vẻ phân vân. “Cứ để tôi ra ngoài, đi lại một chút thôi cũng được,” nàng nói. “Ở trong cái máy bay ấy tôi phát điên lên rồi.”

Tôi không trả lời. Tôi nhìn quanh những dãy hành lang.

“Thôi nào,” nàng nói. “Tôi đã đi vào đây mà không ai ăn tôi cả. Cho tôi đi cùng anh tìm thức ăn đi. Anh không biết tôi thích ăn gì đâu.”

Cũng… không hoàn toàn đúng thế. Tôi biết nàng thích mì xào Thái. Tôi biết nàng thèm sushi. Tôi biết nàng không thể cầm lòng trước bánh burger kẹp pho mát béo ngậy, bất chấp lề lối ăn uống giữ dáng nghiêm ngặt ở Sân vận động. Nhưng tôi không thể dùng những hiểu biết đó. Chúng là những điều tôi đánh cắp được.

Tôi chậm rãi gật đầu và chỉ vào nàng. “Chết,” tôi nói rõ ràng. Tôi nghiến răng và lê chân bước kiểu Xác Sống thật cường điệu.

“Được thôi,” nàng nói.

Tôi lê di thành một vòng tròn, bước chân lề rề, run rẩy, thỉnh thoảng lại rên lên một tiếng.

“Hiểu rồi.”

Tôi nắm lấy cổ tay nàng và dẫn nàng vào hành lang. Tôi chỉ về hai phía cho nàng thấy hai nhóm Xác Sống đang lang thang trong bóng mờ buổi sáng. Tôi nhìn thẳng vào mắt nàng. “Đừng… chạy.”

Nàng vạch chéo lên ngực trái. “Tôi hứa.”

Khi đứng gần nàng như thế, tôi lại ngửi thấy mùi của nàng. Nàng đã chùi gần sạch hết thứ máu đen trên da, và qua những chỗ hở đó tôi có thể loáng thoáng nhận ra mùi sự sống của nàng. Nó sủi tăm lóc nóc như rượu champagne, làm tôi thấy giần giật sâu tít tận trong xoang mũi. Vẫn không rời mắt nàng, tôi xoa tay lên một vết đứt mới trên cánh tay, và mặc dù vết đứt đã gần khô, tôi vẫn lấy được một ít máu. Tôi chậm rãi bôi thứ mực này lên mặt và cổ nàng. Nàng rùng mình, nhưng không lùi ra. Chưa kể đến tất cả những điều khác, nàng quả là một cô gái thông minh.

“Được chứ?” Tôi nhướng mày hỏi.

Nàng nhắm mắt, hít một hơi dài, nhăn mặt lại vì mùi máu của tôi, rồi gật đầu. “Được.”

Tôi bước đi và nàng theo sau, người lảo đảo, cứ khoảng ba bốn bước lại rên lên một tiếng. Nàng đang lộ liễu quá, phô trương như trong một vở kịch Shakespeare diễn ở trường cấp ba vậy, nhưng cũng tạm được. Chúng tôi đi qua những đám đông Người Chết đang lê bước hai bên, và không ai đưa mắt nhìn chúng tôi cả. Tôi kinh ngạc khi thấy chúng tôi càng đi xa thì nỗi sợ của Julie dường như càng giảm bớt, bất kể mối nguy trước mắt. Có lúc tôi còn thấy nàng cố nhịn cười sau khi rên lên một tiếng thật kêu. Tôi cũng cười, nhưng không để nàng nhìn thấy mình.

Chuyện này thật… mới lạ.

TÔI DẪN JULIE đến khu ăn uống, và nàng ném cho tôi ánh mắt tò mò khi thấy tôi ngay lập tức tiến về phía nhà hàng Thái. Khi chúng tôi lại gần nàng nhăn mặt và đưa tay lên bịt mũi. “Lạy Chúa,” nàng kêu lên. Những cái hộp hâm nóng đặt ở trước quầy giờ đầy thức ăn thối rữa đã khô đét đi cùng với dòi chết và nấm mốc. Bây giờ tôi hầu như không còn ngửi thấy gì được nữa, nhưng cứ nhìn vẻ mặt của Julie thì biết chắc là tởm lắm. Chúng tôi lục tìm một lát ở buồng sau, nhưng điện lưới sân bay chập chờn khiến các tủ lạnh thỉnh thoảng mới chạy, vì vậy mọi thứ bên trong đã thối hết. Tôi đi về phía quầy bán bánh burger. Julie lại nhìn tôi vẻ tò mò và đi theo tôi. Trong buồng đá, chúng tôi tìm thấy mấy miếng thịt băm đang còn lạnh, nhưng rõ ràng là đã bị tan đi đông lại nhiều lần. Ruồi chết lấm tấm trên nền sàn trắng của buồng đá.

Julie thở dài. “Thế nào?”

Tôi nhìn về đằng xa ngẫm nghĩ. Trong sân bay cũng có một quầy bán sushi… nhưng tôi không nhớ mấy về sushi, và nếu một miếng cá cam tươi có thể hỏng chỉ sau vài giờ thì tôi không muốn biết nó sẽ ra sao sau hàng năm trời.

“Trời ạ,” Julie thốt lên trong khi tôi tần ngần đứng đó, “Anh giỏi sắp xếp bữa tối thật đấy.” Nàng mở mấy hộp bánh mì mốc meo ra, và nhăn mũi lại. “Anh chưa bao giờ làm việc này đúng không? Đưa một con người còn sống về nhà ấy?”

Tôi lắc đầu vẻ xin lỗi, nhưng cách nàng dùng từ “con người” làm tôi đau nhói. Tôi chưa bao giờ thích sự phân biệt đó. Nàng là Người Sống còn tôi là Người Chết, nhưng tôi muốn tin rằng chúng tôi đều là con người cả. Tôi lý tưởng chúng như thế đấy.

Tôi giơ một ngón tay lên để ngăn nàng lại. “Một… chỗ nữa.”

Chúng tôi đi ra cạnh khu ăn uống, đến một chỗ không có biển chỉ dẫn. Đi qua vài cánh cửa nữa thì chúng tôi đến được kho hàng trung tâm sân bay. Tôi cạy một cánh cửa buồng đá ra, và một luồng khí lạnh như băng phả lên. Tôi cố giấu vẻ nhẹ nhõm. Cứ thế này mãi thì cũng ngại thật. Chúng tôi bước vào trong và đứng giữa những cái giá chất đầy các khay thức ăn máy bay.

“Để xem ở đây có gì nào…” Julie nói và bắt đầu lục lọi các giá thấp, kiểm tra những khay đựng món thịt bò băm và khoai tây đã qua xử lý. Nhờ có các chất bảo quản kỳ diệu nào đó mà những món này nhìn vẫn còn ăn được.

Julie nhìn nhãn tên ở các giá trên mà nàng không với tới và đột nhiên toét miệng cười, để lộ hai hàm răng trắng đều tăm tắp nhờ đeo dây kẽm chỉnh nha từ bé. “Nhìn kìa, có mì xào Thái! Tôi thích…” Nàng bỗng nhận ra mình đang nói gì và im bặt, mắt nhìn tôi vẻ lúng túng. Nàng chỉ lên giá. “Tôi sẽ ăn món ấy.”

Tôi vươn tay qua đầu nàng nhặt lấy một ôm mì xào Thái đông lạnh. Tôi không muốn Người Chết nào nhìn thấy Julie ăn những thứ rác rưởi không sức sống, những calorie rỗng không này, vì vậy tôi dẫn nàng đến một cái bàn nằm khuất sau mấy quầy bán bưu ảnh đã sập. Tôi cố đưa nàng đi càng xa Trường càng tốt, nhưng chúng tôi vẫn nghe thấy những tiếng kêu gào khủng khiếp vang vọng khắp hành lang. Julie giữ vẻ mặt hoàn toàn vô cảm giữa những tiếng thét chói tai nhất, nỗ lực hết sức để tỏ ra là nàng không để ý tới cảnh tàn sát kia, chỉ thiếu nước huýt sáo nữa thôi. Nàng làm thế là vì tôi hay vì chính nàng?

Chúng tôi ngồi xuống bên bàn và tôi đặt một khay thức ăn trước mặt nàng. “Chúc… ngon miệng,” tôi nói.

Nàng chọc chọc món mì còn đông cứng bằng cái đĩa nhựa. Nàng nhìn tôi. “Quả thực là anh chẳng nhớ gì cả, phải không? Lần cuối anh ăn thức ăn thật là bao giờ?”

Tôi nhún vai.

“Thế anh đã… chết hay là đại loại thế được bao lâu rồi?”

Tôi gõ gõ một ngón tay lên thái dương và lắc đầu.

Nàng nhìn tôi từ đầu đến chân. “Ờ, chắc cũng chưa lâu lắm. So với một thây ma thì trông anh khá là ổn đấy.”

Tôi lại nhăn mặt vì cách dùng từ của nàng, nhưng tôi nhận ra nàng không thể biết được hết những hàm ý xã hội sâu xa của từ “thây ma”. M thỉnh thoảng dùng từ ấy để nói đùa, và có lúc cáu giận tôi cũng dùng đến nó, nhưng khi phát ra từ miệng một kẻ ngoài cuộc, nó châm ngòi cho một nỗi phẫn nộ đầy tự ái trong tôi mà nàng sẽ không hiểu nổi. Tôi hít một hơi thật sâu và cho qua.

“Dù sao thì tôi cũng không thể ăn như thế này được,” nàng nói, chọc cái đĩa nhựa vào món mì cho đến khi một răng đĩa gãy ra. “Tôi phải đi tìm lò vi sóng đã. Đợi nhé.”

Nàng đứng lên đi vào một trong những nhà hàng bỏ hoang. Nàng đã quên mất cách lê bước của mình, và đu đưa hông một cách nhịp nhàng. Kể cũng liều, nhưng tôi chẳng quan tâm.

“Được rồi,” nàng nói khi quay về và hít một hơi thật sâu mùi ớt cay nồng. “Hừừừm. Đã lâu lắm rồi tôi không được ăn đồ Thái. Ở Sân vận động chúng tôi không có thức ăn thật nữa, chỉ các chất dinh dưỡng cơ bản Carbtein thôi. Viên Carbtein, bột Carbtein, cả nước Carbtein nữa. Lạy Chúa. Ghê lắm.” Nàng ngồi xuống ăn một miếng đậu phụ đã khô quắt đi vì đông đá. “Ôi trời ơi. Kể có thể gọi là ngon được đấy.”

Tôi ngồi nhìn nàng ăn. Tôi thấy nàng có vẻ khó khăn khi nuốt những miếng mì đã dính lại thành cục. Tôi liền lấy một chai bia đỏ âm ấm từ trong tủ lạnh của nhà hàng ra và đặt xuống bàn.

Julie ngừng ăn và nhìn chai bia. Rồi nàng nhìn tôi mỉm cười. “Chà, ngài Xác Sống. Anh đọc được ý nghĩ của tôi rồi đấy.” Nàng vặn nắp chai uống một hơi dài. “Cũng lâu lắm rồi tôi chưa được uống bia. Trong Sân vận động không được dùng chất kích thích gì hết. Lúc nào cũng phải minh mẫn, lúc nào cũng phải cảnh giác, vân vân và vân vân.” Nàng lại uống một ngụm nữa và nhìn tôi vẻ dò xét pha lẫn giễu cợt. “Có lẽ anh không hẳn là một con quỷ, ngài Xác Sống ạ. Ý tôi là, bất cứ ai biết thưởng thức bia thì đối với tôi cũng không đến nỗi nào.”

Tôi nhìn nàng và đặt tay lên ngực. “Tên… tôi…” tôi khò khè, nhưng không biết tiếp tục như thế nào.

Nàng đặt chai bia xuống rồi hơi cúi về phía trước. “Anh có tên ư?”

Tôi gật đầu.

Miệng nàng cong lên thành một nụ cười mủn mỉm thích thú. “Thế tên anh là gì?”

Tôi nhắm mắt lại, suy nghĩ thật lung, cố lôi ký ức ấy ra khỏi khoảng không mông lung, nhưng tôi đã cố như thế nhiều lần rồi. “Rrr,” tôi nói, gắng phát âm thật rõ.

“Rur? Tên anh là Rur à?”

Tôi lắc đầu. “Rrrrr…”

“Rrr? Tên anh bắt đầu bằng chữ R?”

Tôi gật đầu.

“Robert à?”

Tôi lắc.

“Rick? Rodney?”

Tôi vẫn lắc.

“Ờ… hay là Rambo?”

Tôi thở hắt ra và nhìn xuống bàn.

“Hay tôi cứ gọi anh là ‘R’ thôi nhé? Cứ bắt đầu như thế cũng được, phải không?”

Mắt tôi tìm mắt nàng. “R.” Một nụ cười chậm rãi nở ra trên mặt tôi.

“Xin chào R,” nàng nói. “Tôi là Julie. Nhưng anh đã biết tên tôi rồi phải không. Chắc tôi phải là siêu sao.” Nàng đẩy chai bia về phía tôi. “Làm một ngụm đi.”

Tôi liếc mắt nhìn cái chai một giây, cảm thấy cơn buồn nôn kỳ lạ cuộn lên trong bụng khi nghĩ tới thứ nằm bên trong. Chất nước màu hổ phách sẫm màu trống rỗng. Như thứ nước tiểu vô hồn. Nhưng tôi không muốn phá hỏng giây phút ấm không tưởng này bằng những băn khoăn Xác Sống ngu ngốc của mình. Tôi cầm lấy chai bia tu một hơi dài. Tôi có thể cảm thấy nó nhỏ qua những lỗ thủng tí xíu trên bụng, làm ướt cả áo tôi. Và tôi kinh ngạc khi thấy một chút hơi say thoảng qua trong đầu. Tất nhiên là không thể như thế được, vì tôi đâu còn máu cho cồn ngấm vào nữa, nhưng tôi vẫn cảm nhận được. Có phải là do tinh thần không? Có lẽ là do ký ức từ một cơn say nào đó trong cuộc sống trước kia của tôi chăng? Nếu vậy thì hẳn tôi không phải bợm nhậu rồi.

Julie cười toe khi nhìn thấy vẻ mặt đờ đẫn của tôi. “Uống hết đi,” nàng nói. “Thực ra thì tôi thích rượu vang hơn.”

Tôi uống một hơi nữa. Tôi nếm thấy vị son bóng mùi quả mâm xôi của nàng trên miệng chai. Bỗng nhiên tôi lại tưởng tượng ra cảnh nàng trang điểm trước khi đi xem ca nhạc, mái tóc dài đến cổ của nàng được chải chuốt cẩn thận, thân hình nhỏ nhắn của nàng rạng rỡ trong bộ váy đỏ, và tôi hôn nàng, làm cho son môi dính lên miệng tôi, màu đỏ thắm trên đôi môi xám ngoét của tôi…

Tôi đẩy cái chai ra một khoảng cách an toàn.

Julie khẽ cười và ăn tiếp. Nàng chọc chọc khay mì một hồi lâu, không chú ý gì đến tôi. Tôi đang định đánh liều thử chuyện gẫu với nàng thì nàng đột nhiên ngẩng lên nhìn tôi, trên mặt không còn chút vui vẻ nào nữa. “Thế đấy, ‘R’. Anh đang giữ tôi ở đây làm gì?”

Câu hỏi ấy làm tôi bất ngờ như bị ai vả vào mặt. Tôi nhìn lên trần. Tôi chỉ quanh sân bay, chỉ về phía những tiếng rên rỉ của Người Chết, đồng loại của tôi. “Bảo vệ cô.”

“Vớ vẩn.”

Im lặng. Nàng nhìn tôi không chớp. Tôi cụp mắt xuống.

“Nghe này,” nàng nói. “Tôi hiểu là anh đã cứu mạng tôi lúc ở trong thành phố. Và hẳn là tôi biết ơn anh vì điều đó. Thế đấy. Cảm ơn vì đã cứu mạng tôi. Hay là đã tha mạng tôi. Thế nào cũng được. Nhưng anh đã đưa tôi vào đây được thì tôi chắc là anh cũng có thể đưa tôi ra. Vậy tôi hỏi lại một lần nữa: anh giữ tôi ở đây để làm gì?”

Mắt nàng dán vào mặt tôi như hai chiếc bàn là nóng rực, và tôi nhận ra mình không thể lẩn tránh được nữa. Tôi đặt tay lên ngực, bên trên chỗ trái tim. “Trái tim” của tôi. Không biết cái cơ quan nội tạng thảm thương ấy còn tượng trưng cho điều gì nữa không? Nó nằm im lìm trong ngực tôi, không bơm máu, không có tác dụng gì nữa, vậy mà dường như tình cảm của tôi vẫn bắt nguồn từ những vách ngăn lạnh ngắt của nó. Nỗi buồn câm lặng của tôi, khao khát mơ hồ của tôi, cả những niềm vui hiếm hoi chớp nhoáng nữa. Chúng dồn lại giữa ngực tôi và tỏa ra từ đó, đã bị loãng và yếu đi nhiều, nhưng vẫn đầy chân thực.

Tôi áp tay vào tim mình. Rồi tôi chậm rãi đưa tay về phía Julie và áp tay lên chỗ tim nàng. Tôi cố bắt mình nhìn vào mắt nàng.

Nàng nhìn xuống tay tôi, rồi ném cho tôi một cái nhìn lạnh lùng. “Anh. Đùa. Đấy. À.”

Tôi rút tay về và lại nhìn xuống bàn, thầm biết ơn là mình không còn đỏ mặt được nữa. “Cần… đợi,” tôi lầm bầm. “Họ… nghĩ cô… mới chuyển đổi. Họ sẽ nhận ra.”

“Phải mất bao lâu?”

“Vài… ngày. Họ sẽ… quên.”

“Lạy Chúa,” nàng thở hắt ra, đưa tay lên che mắt, và lắc đầu.

“Cô sẽ… không sao,” tôi bảo nàng. “Hứa đấy.”

Nàng lờ tôi đi. Nàng lôi một cái iPod ra khỏi túi và nhét tai nghe vào tai. Nàng lại tiếp tục ăn và nghe thứ nhạc mà với tôi chỉ là một tiếng rít khe khẽ.

Buổi hẹn này có vẻ không ổn. Một lần nữa, những ý nghĩ phi lý của chính mình lại khiến tôi choáng ngợp, và tôi muốn bò ra khỏi bộ da này, thoát khỏi lớp thịt xấu xí vụng về này, chỉ còn là một bộ xương trần trụi, vô danh. Tôi đang định đứng dậy bỏ đi thì Julie bỏ một tai nghe ra và nheo mắt nhìn tôi như muốn xuyên suốt qua tôi. “Anh… rất khác biệt, phải không,” nàng nói.

Tôi không trả lời.

“Bởi vì tôi chưa bao giờ nghe Xác Sống nói gì ngoài ‘óc!’ và rên rỉ đến ngớ ngẩn. Và tôi cũng chưa bao giờ thấy một Xác Sống nào ngoài việc ăn con người thì còn có bất kỳ hứng thú gì khác với họ. Tôi chắc chắn chưa bao giờ được Xác Sống nào mua bia cho cả. Có những… người khác giống anh không?”

Tôi lại thấy muốn đỏ mặt. “Không… biết.”

Nàng gạt mì qua lại trên đĩa. “Vài ngày,” nàng nhắc lại.

Tôi gật đầu.

“Thế tôi biết làm gì ở đây cho đến khi có thể an toàn bỏ đi bây giờ? Hy vọng anh không mong tôi sẽ ngồi trong căn nhà phản lực của anh và tắm máu suốt cả tuần đấy chứ.”

Tôi ngẫm nghĩ một lát. Một loạt những hình ảnh lướt qua đầu tôi, có lẽ từ những bộ phim cũ tôi đã xem, ủy mị ướt át và không thể thực hiện nổi. Tôi phải bình tâm lại mới được.

“Tôi sẽ… tiếp đãi,” cuối cùng tôi nói, cố nặn ra một nụ cười không giống thật lắm. “Cô là… khách.”

Nàng đảo mắt và ăn tiếp. Cái tai nghe thứ hai vẫn còn nằm trên bàn. Không ngẩng nhìn lên, nàng đưa nó cho tôi. Tôi nhét nó vào tai và giọng hát của Paul McCartney vọng vào đầu tôi, hát lên những từ trái nghĩa đầy nuối tiếc, có/không, cao/thấp, xin chào/tạm biệt/xin chào.

“Anh có biết là John Lennon cực ghét bài này không?” Julie nói trong lúc bài hát tiếp tục, hướng về phía tôi nhưng không hẳn là nhìn tôi. “Anh ta nghĩ nó chỉ toàn những từ linh tinh vô nghĩa. Người sáng tác bài ‘I Am the Walrus’ mà lại nói thế thì buồn cười thật.”

“Bài này… hay,” tôi nói.

Nàng ngưng lại, nghiêng đầu nhìn tôi vẻ ngạc nhiên thích thú. “Chính xác thế đấy, phải không?” Nàng lơ đãng làm một ngụm bia, quên mất vết môi tôi trên chai, và mắt tôi mở to hoảng hốt. Nhưng không có gì xảy ra cả. Có lẽ căn bệnh truyền nhiễm của tôi không thể lây lan qua những giây phút êm dịu như thế này. Có lẽ nó cần sự hung bạo của vết cắn.

“Dù sao thì bây giờ bài này cũng hơi quá vui nhộn so với tôi,” nàng nói và chuyển sang bài khác. Tôi thoáng nghe thấy một đoạn Ava Gardner hát trong phim Showboat, rồi nàng tua qua vài bài nữa, để chọn một bài nhạc rock mà tôi không biết, rồi vặn to tiếng lên. Tôi chỉ còn nghe thấy loáng thoáng tiếng nhạc, nhưng tôi không để ý đến nó nữa. Tôi ngắm Julie gật gù đầu sang hai bên, mắt nhắm lại. Ngay cả lúc này đây, trong nơi tăm tối nhất, lạ lùng nhất, bầu bạn với một kẻ rùng rợn nhất, âm nhạc vẫn khuấy động nàng và sức sống của nàng vẫn sục sôi. Tôi lại ngửi thấy mùi của nó, một luồng hơi trắng sáng rực tỏa ra từ bên dưới lớp máu đen sì của tôi. Và tôi không thể khiến mình bóp nghẹt sức sống ấy, cho dù là vì sự an toàn của Julie.

Tôi bị làm sao vậy? Tôi nhìn tay mình, nhìn lớp da xám xịt, lạnh nhắt, cứng đơ, và tôi mơ nó lại hồng hào, ấm áp, mềm mại, có thể dẫn dắt, xây dựng, và vuốt ve. Tôi mơ những tế bào hoại tử của mình sẽ thức dậy khỏi cơn mê, nở ra và sáng rực lên sâu thẳm trong tôi như đèn Giáng sinh. Có phải tôi đã tưởng tượng ra những điều này, cũng hơi men bia không? Một thứ thuốc trấn an? Một ảo tưởng lạc quan? Dù sao thì tôi cũng cảm thấy đường thẳng tồn tại của tôi đã bị phá vỡ, tạo thành những núi đồi và thung lũng của nhịp tim.

“ANH PHẢI CUA NGỌT VÀO CHỨ. Cứ mỗi khi rẽ phải là anh lại suýt lao ra khỏi đường.”

Tôi vặn mạnh cái vô lăng mảnh bọc da và nhấn chân lên bàn đạp ga. Chiếc Mercedes chúi về phía trước, làm đầu chúng tôi giật ra đằng sau.

“Trời ạ, anh cứng chân quá. Đạp ga nhẹ hơn một chút được không?”

Chiếc xe giật cục dừng lại, nhưng tôi quên không nhấn chân côn, và xe chết máy. Julie đảo mắt, cố lấy giọng kiên nhẫn. “Được rồi, nhìn này.” Nàng khỏi động lại xe, rồi ngồi dịch sang, vắt chân qua chân tôi, đặt bàn chân lên bàn chân tôi. Nhờ có nàng, tôi chuyển từ chân ga sang chân côn một cách trôi chảy, và chiếc xe lướt tới trước. “Làm như thế,” nàng nói và quay lại ghế của mình. Tôi phát ra một tiếng khò khè hài lòng.

Chúng tôi đang lái xe trên đường băng, vòng đi vòng lại dưới ánh nắng chiều dịu nhẹ. Tóc chúng tôi bay tung trong gió. Trong giây phút ấy, trên chiếc xe Roadster ’64 màu đỏ thắm này, với cô gái xinh đẹp này, tôi không thể không tưởng tượng mình đang sống những cuộc sống khác, nên thơ một cách cổ điển hơn. Tâm trí tôi bắt đầu lan man, và tôi đánh mất chút tập trung ít ỏi tôi có được. Chiếc xe lao ra khỏi đường băng, sượt qua bộ giảm xóc của một chiếc xe thang, xô đẩy vòng tròn của nhà thờ Xương Khô. Cú va chạm khiến đầu chúng tôi đập sang bên, và tôi nghe thấy tiếng xương cổ hai đứa con tôi đang ngồi ở ghế sau gãy đánh rắc. Chúng rên rỉ phản đối và tôi suỵt bảo chúng yên lặng. Tôi đã ngượng lắm rồi không cần hai đứa thêm vào nữa.

Julie kiểm tra đầu xe bị méo và lắc đầu. “Chết tiệt thật, R. Cái xe đẹp thế này kia mà.”

Con trai tôi vụng về lao tới trước hòng cắn vai Julie một lần nữa, và tôi thò tay về phía tay đập cho nó một cái. Nó ngồi gục xuống ghế, hai tay khoanh lại, mặt sưng sỉa.

“Không được cắn!” Julie quát nó trong khi vẫn tiếp tục xem xét hư hại trên chiếc xe.

Tôi không biết tại sao hôm nay tôi lại quyết định đưa hai đứa con theo trong buổi học lái xe. Julie đã cố dạy tôi từ mấy ngày nay rồi, và tự dưng hôm nay tôi bỗng cảm thấy một thôi thúc mơ hồ nào đó, muốn được làm bố. Được truyền kiến thức. Tôi biết làm như vậy là không an toàn. Hai đứa con tôi còn quá nhỏ để nhận ra giọng nói của Người Sống, chứ đừng nói gì đến việc thưởng thức âm thanh ấy như tôi, và tôi đã phải bôi lại lớp hóa trang ghê tởm của Julie mấy lần, nhưng khi ngồi gần, bản chất thật của nàng vẫn tỏa ra ngoài. Thỉnh thoảng hai đứa con tôi lại ngửi thấy mùi sự sống, và bản năng phát triển chậm chạp của chúng lại lên tiếng. Tôi cố kỷ luật chúng một cách âu yếm nhất.

Khi vòng xe lại để quay về nhà, tôi thấy một đoàn người đang ra khỏi cổng hành lý. Như một đám tang ngược đời, những Người chết nghiêm trang đi thành hàng một, lề rề từng bước tiến về phía nhà thờ. Một nhóm Xương Khô dẫn đầu đoàn người, đi một cách quả quyết hơn nhiều so với những kẻ vẫn còn da thịt. Trong số bọn tôi, chỉ có vài kẻ đó biết rõ chúng đang đi đâu và đang làm gì. Chúng không ngần ngừ, chúng không dừng lại hay đi đường khác, và cơ thể chúng không còn phát triẻn hay thối rữa nữa. Chúng sẽ không bao giờ thay đổi. Một trong số chúng nhìn thẳng vào tôi, và tôi chợt nhớ đến một bức tranh khắc từ thời Trung cổ mà tôi từng thấy, vẽ hình một cái xác thối đang nhăn răng cười với một trinh nữ mũm mĩm.

Quod tu es, ego fui, quod ego sum, tu eris.

Ngươi đang thế nào thì ta cũng từng như vậy.

Ta đang thế nào thì ngươi cũng sẽ như vậy.

Tôi rời mắt khỏi cái nhìn trống rỗng của bộ xương ấy. Khi chúng tôi lái xe dọc theo đoàn người, mấy người Da Thịt nhìn chúng tôi vẻ ơ hờ, và tôi thấy vợ tôi đi cùng với họ. Cô ta đang đi bên một người đàn ông, nắm chặt tay hắn. Hai đứa con tôi nhìn thấy cô ta và đứng lên trên ghế sau, vừa vẫy tay vừa gầm gừ thật to. Julie nhìn theo và thấy vợ tôi vẫy tay chào lại chúng, Julie quay sang nhìn tôi. “Đó có phải là… vợ anh không?”

Tôi không trả lời. Tôi nhìn vợ tôi, chờ đợi một lời quở trách nào đó. Nhưng trong mắt cô ta gần như không có vẻ gì là nhận ra tôi. Cô ta nhìn chiếc xe. Cô ta nhìn tôi. Cô ta nhìn thẳng về phía trước và đi tiếp, tay trong tay với một người đàn ông khác.

“Đó có phải là vợ anh không?” Julie hỏi lại, gay gắt hơn. Tôi gật đầu. “Thế cái… gã đi cùng cô ấy là ai?” Tôi nhún vai. “Cô ấy đang bồ bịch à?” Tôi lại nhún vai. “Anh không thấy… tức giận ư?”

Tôi nhún vai.

“Đừng có nhún vai nữa, đồ khốn! Tôi biết anh nói chuyện được mà nói gì đó đi.”

Tôi nghĩ một lát. Vừa nhìn vợ tôi đi xa dần, tôi vừa đặt tay lên tim mình. “Chết.” Tôi chỉ tay về phía vợ tôi. “Chết.” Tôi đưa mắt nhìn vô định lên trời. “Muốn… thấy đau. Nhưng… không thấy.”

Julie nhìn tôi như đang đợi tôi nói gì thêm, và tôi tự hỏi không biết mình đã diễn đạt được gì bằng màn độc thoại ngập ngừng lầm bầm đó. Liệu những từ tôi thốt ra có đủ nghe không, hay chúng chỉ vang lên trong đầu tôi trong khi mọi người nhìn tôi chờ đợi? Tôi muốn thay thế dấu câu của mình. Tôi khao khát được dùng dấu chấm than, nhưng tôi lại đang chết chìm trong những dấu chấm lửng.

Julie nhìn tôi thêm một lát, rồi quay lại nhìn kính chắn gió và cảnh vật phía trước. Bên phải chúng tôi: những đường hầm lên máy bay trống rỗng, tối đen, trước kia đã đông nghịt những người lữ hành háo hức trên đường thăm thú thế giới, để mở rộng tầm mắt, đề tìm kiếm tình yêu, danh vọng, và tiền tài. Bên trái chúng tôi: một chiếc máy bay Dreamliner cháy đen.

“Bạn trai tôi cũng từng không chung thủy với tôi.” Julie nói với cái kính chắn gió. “Hồi đang xây dựng trại mồ côi, bố anh ấy cho một cô gái ở nhờ, và một tối anh ấy và cô ta uống say đến quên trời quên đất, và chuyện cứ thế xảy ra thôi. Về cơ bản thì đó chỉ là một tai nạn, và anh ấy đã thú nhận với tôi một cách thành thực và cảm động nhất, thề có Chúa là anh ấy rất yêu tôi và sẽ làm tất cả để chứng tỏ với tôi, vân vân và vân vân, nhưng chẳng ích gì, tôi không ngừng nghĩ về chuyện ấy, đay đi đay lại trong đầu mình, và cứ thế nổi điên lên. Suốt mấy tuần liền đêm nào tôi cũng khóc. Tôi nghe đến mòn hết cả mấy bài hát buồn nhất mà tôi lưu trong máy ấy.” Nàng chầm chậm lắc đầu. Mắt nàng nhìn xa xăm. “Mọi thứ cứ… Đôi khi tôi cảm thấy mọi thứ quá khắc nghiệt. Khi chuyện đó xảy ra với Perry, tôi chỉ muốn được… giống như anh thôi.”

Tôi chăm chú nhìn nàng. Nàng đưa một ngón tay lên quấn tóc. Tôi nhận ra những vết sẹo mờ trên cổ tay và cánh tay nàng, những đường thẳng quá đều đặn để có thể là do tai nạn. Nàng chớp chớp mắt và đột nhiên quay sang nhìn tôi, như thể tôi vừa đánh thức nàng dậy từ một giấc mơ. “Chẳng hiểu sao tôi lại kể cho anh nghe những chuyện này nữa,” nàng cáu kỉnh nói. “Thôi, hôm nay học thế là đủ rồi. Tôi thấy mệt.”

Không nói thêm một lời, tôi lái xe về nhà. Tôi nhấn phanh quá chậm và đỗ xe lại khi cái giảm xóc chỉ cách mũi một chiếc Miata có năm phân. Julie thở dài.

Tối hôm đó chúng tôi ngồi trong chiếc 747, xếp bằng ở giữa lối đi. Một đĩa mì xào Thái đã được quay trong lò vi sóng đặt trên sàn trước mặt Julie, đang nguội ngắt đi. Tôi im lặng nhìn nàng đẩy mì qua lại trên đĩa. Ngay cả khi nàng không nói gì hay không làm gì tôi vẫn ngắm nàng không chán mắt. Nàng nghiêng đầu, mắt nhìn vô định, rồi nàng mỉm cười và đổi tư thế. Những ý nghĩ của nàng hiển hiện rõ trên mặt như một thước phim được chiếu lên vậy.

“Trong này im lặng quá,” nàng nói rồi đứng dậy. Nàng lục lọi đống đĩa hát của tôi. “Sao toàn đĩa than thế? Anh không biết cách dùng iPod à?”

“Nghe… hay hơn.”

Nàng bật cười. “À, hóa ra anh theo chủ nghĩa thuần túy.”

Tôi đưa ngón tay quay vòng trong không trung. “Thật hơn. Sống động… hơn.”

Nàng gật đầu. “Phải, đúng vậy. Nhưng cũng rắc rối hơn nữa.” Nàng nhíu mày lật lật chồng đĩa. “Trong này chẳng có cái nào ra sau năm 1999 cả. Có phải đấy là khi anh chết không?”

Tôi ngẫm nghĩ một lát, rồi nhún vai. Cũng có thể là thế, nhưng sự thực là tôi chẳng biết mình chết từ khi nào nữa. Người ta có thể đoán được ngày chết của tôi dựa vào độ phân hủy của cơ thể tôi, nhưng không phải ai cũng thối rữa với tốc độ như nhau. Một số người trong chúng tôi tươi rói suốt hàng năm trời như mới được đưa đến nhà tang lễ, có người lại teo đi chỉ còn bộ xương chỉ trong vòng vài tháng, da thịt khô đét như bọt biển mất nước. Tôi không biết vì sao lại có sự chênh lệch này. Có lẽ cơ thể chúng tôi cũng giống như trí não chúng tôi vậy. Một số người bỏ cuộc một cách dễ dàng, những người khác thì lại cố cầm cự.

Một khó khăn khác trong việc đoán tuổi của tôi: tôi không biết đang là năm bao nhiêu. Năm 1999 có thể đã là cả thập kỷ trước, hoặc mới là ngày hôm qua. Ta có thể suy ra được một dòng thời gian bằng cách quan sát những con phố đổ nát, những hạ tầng cơ sở sụp đổ, nhưng mọi nơi trên thế giới cũng phân hủy theo tốc độ riêng của chúng. Có những thành phố có thể bị nhầm với tàn tích từ thời Aztec, và có những thành phố mới chỉ bị bỏ hoang từ tuần trước, với những chiếc ti vi đầy tiếng nhiễu vẫn bật cả đêm và trứng tráng ở các quán cà phê mới bắt đầu lên mốc.

Chuyện xảy ra với thế giới này hết sức từ từ. Tôi không còn nhớ cụ thể nó là chuyện gì nữa, nhưng tôi vẫn còn chút ký ức mờ nhạt nhưng rất thật rằng mọi chuyện đã như thế nào. Nỗi sợ âm ỉ nhưng không bao giờ bùng lên cho tới khi chẳng còn gì để cho nó bùng lên nữa. Mỗi bước tiếp theo lại khiến chúng tôi bàng hoàng hơn. Rồi một ngày kia chúng tôi thức dậy và tất cả đã biết mất.

“Anh lại thế rồi kìa,” Julie nói. “Lại nghĩ lan man. Tôi rất muốn biết anh đang nghĩ chuyện gì mà mặt đờ ra như thế.” Tôi nhún vai, và nàng thở ra một hơi bực dọc. “Lại nhún vai nữa rồi. Đừng nhún vai nữa, đồ hay nhún vai! Trả lời câu hỏi của tôi đi. Sao thị hiếu âm nhạc của anh lại chậm tiến thế?”

Tôi định nhún vai nhưng ngừng lại kịp, tuy hơi khó khăn. Làm sao tôi có thể tìm ra lời để giải thích với nàng đây? Cái chết hao mòn của Don Quixote. Dừng mọi sứ mệnh, từ bỏ mọi ham muốn, để làm quen và an bài với số phận không thể tránh khỏi của Người Chết.

“Chúng tôi không… nghĩ ra… những điều mới,” tôi bắt đầu, cố vượt qua cách nói rút gọn của mình. “Đôi khi… tôi vớ được… các thứ. Nhưng chúng tôi không… đi tìm.”

“Thế à,” Julie nói. “Thê thảm gớm nhỉ.” Nàng vẫn tiếp tục lật chồng đĩa của tôi, nhưng giọng nàng mỗi lúc một gay gắt. “Anh không nghĩ được điều gì mới ư? Anh không ‘đi tìm’ ư? Thế là thế nào? Anh không đi tìm cái gì? Âm nhạc ư? Âm nhạc chính là cuộc sống! Nó là tình cảm chuyển thành dạng vật chất – anh có thể chạm vào nó! Nó là năng lượng bên ngoài của linh hồn được hút ra và chuyển thành sóng âm cho tai anh. Anh định nói với tôi như thế là nhàm chán ư? Anh không có thời gian cho việc đó ư?”

Tôi không biết phải trả lời ra sao. Tôi chỉ biết cầu nguyện với bầu trời xám xịt đang há hoác miệng kia rằng Julie sẽ không bao giờ thay đổi. Rằng nàng sẽ không bao giờ thức dậy vào một ngày kia, già cỗi và khôn ngoan hơn.

“Nhưng dù sao thì ở đây cũng có vài đĩa hay đấy,” nàng nói, cơn giận dịu dần. “Rất hay là đằng khác. Đây, bật lại cái này đi. Frank không bao giờ làm ta thất vọng cả.” Nàng đặt một cái đĩa lên máy và quay lại với món mì xào. Bài “The Lady is a Tramp” vang vọng khắp khoang máy bay, và nàng nhoẻn miệng cười với tôi. “Bài hát chủ đề của tôi đấy,” nàng nói, và nhồi đầy mì vào miệng.

Bị thôi thúc bởi sự tò mò bệnh hoạn, tôi lấy một sợi mì trên đĩa của nàng nhai thử. Nó chẳng có vị gì cả. Giống như ăn thức ăn giả vờ hay nhai không khí vậy. Tôi quay đầu đi nhổ nó ra tay. Julie không để ý. Nàng lại như đang phiêu diêu đi một nơi khác, và tôi ngắm những màu sắc cùng hình ảnh trong bộ phim – ý nghĩ của nàng chập chờn trên mặt nàng. Mấy phút sau, nàng nuốt miếng mì và ngước lên nhìn tôi.

“R này,” nàng nói với giọng hiếu kỳ bình thản. “Anh đã giết ai?”

Tôi sững người. Tiếng nhạc bay biến khỏi đầu tôi.

“Trong tòa nhà cao tầng ấy. Trước khi anh cứu tôi. Tôi đã nhìn thấy máu trên mặt anh. Là máu của ai thế?”

Tôi chỉ biết nhìn nàng. Sao nàng lại phải hỏi tôi câu ấy. Sao trí nhớ của nàng không mờ nhạt đi như trí nhớ của tôi. Tại sao nàng không thể sống với tôi một mình trong bóng tối, bơi trong vực thẳm của mọi ký ức đã bị xóa nhòa.

“Tôi chỉ cần biết đó là ai thôi.” Vẻ mặt nàng không để lộ điều gì. Mắt nàng nhìn thẳng vào mắt tôi, không chớp.

“Không ai cả,” tôi lầm bầm. “Một… gã nào đó.”

“Có môt giả thiết nói rằng các anh ăn óc là vì các anh sẽ được sống qua cuộc đời của người đó. Có đúng không?”

Tôi nhún vai, cố không co rúm người lại. Tôi cảm thấy như một đứa bé bị bắt quả tang vừa bôi bẩn lên tường. Hoặc là vừa giết hàng chục người.

“Đó là ai?” nàng gặng hỏi. “Anh không nhớ ư?”

Tôi định nói dối. Tôi còn nhớ một số khuôn mặt trong căn phòng ấy tôi có thể đánh liều chọn bừa một ai đó, có thể là một tên lính mới mà nàng cũng không quen, và nàng sẽ cho qua, không bao giờ nhắc lại chuyện này nữa. Nhưng tôi không thể. Tôi không thể nói dối nàng cũng như không thể thốt ra sự thật khó nuốt. Tôi bị mắc kẹt.

Mắt Julie nhìn tôi suốt một phút đồng hồ như muốn xuyên thấu, rồi thôi. Nàng nhìn xuống lớp thảm cáu bẩn trên sàn máy bay. “Có phải là Berg không” nàng hỏi, khẽ đến nỗi nghe như nàng đang nói với chính mình. “Thằng nhóc mặt đầy trứng cá ấy? Tôi cá là Berg. Nó là thằng chó đểu. Nó gọi Nora là đồ con lai và suốt buổi thu gom hôm đó nó cứ nhìn mông tôi suốt. Mà tất nhiên Perry còn chẳng thèm nhận ra nữa. Nếu đúng là Berg thì tôi gần như lấy làm mừng vì anh đã xử nó.”

Tôi cố nhìn thẳng vào mắt nàng để hiểu xem sự đảo lộn này nghĩa là thế nào, nhưng giờ nàng lại tránh ánh mắt tôi. “Dù sao thì,” nàng nói, “dù ai giết Perry đi chăng nữa… tôi cũng muốn anh biết là tôi không trách họ đâu.”

Tôi lại gồng người lên. “Không… ư?”

“Không. Ý tôi là, tôi nghĩ là tôi hiểu được. Các anh không có sự lựa chọn nào khác phải không? Và nói thật… tôi sẽ không cho ai biết điều này đâu, nhưng mà…” Nàng đảo đảo đĩa thức ăn. “Tôi gần như thấy nhẹ cả người vì cuối cùng nó cũng xảy ra.”

Tôi cau mày. “Gì cơ?”

“Cuối cùng thì tôi cũng thôi không phải sợ hãi nữa.”

“Perry… chết?”

Vừa thốt ra cái tên ấy, tôi lập tức thấy hối tiếc. Trên lưỡi tôi, từng âm trong cái tên đó đều có vị máu của gã.

Julie gật đầu, mắt vẫn nhìn vào đĩa thức ăn. Khi lên tiếng giọng nàng nhỏ và dịu hẳn lại, tiếng nói của những ký ức không muốn bị khơi dậy nữa. “Có chuyện gì đó đã… xảy ra với anh ấy. Đúng hơn là rất nhiều chuyện. Có lẽ đã đến lúc anh ấy không thể chịu đựng thêm được nữa, thế nên anh ấy phải biến thành một người khác. Trước kia anh ấy là chàng trai thông minh, nồng nhiệt, rất kỳ cục, vui tính và đầy mơ mộng, thế rồi… bỗng dưng anh ấy từ bỏ hết mọi kế hoạch và tham gia vào đội An ninh… anh ấy thay đổi nhanh đến phát sợ. Anh ấy nói anh ấy làm tất cả là vì tôi, rằng đã đến lúc anh ấy phải trưởng thành và đối mặt với thực tế, phải tỏ ra có trách nhiệm, đại loại thế. Nhưng tất cả những gì tôi yêu ở anh ấy – tất cả những gì thuộc về bản chất trước kia của anh ấy – đều bắt đầu thối nát. Nói tóm lại là anh ấy đã bỏ cuộc. Từ bỏ cuộc sống. Cái chết thực sự chỉ là bước logic tiếp theo mà thôi.” Nàng đẩy đĩa mì sang bên. “Chúng tôi rất hay nói về cái chết. Chính anh ấy liên tục nhắc đến. Thỉnh thoảng có lúc đang âu yếm nhau anh ấy tự nhiên dừng lại và nói, ‘Julie này, em nghĩ tuổi thọ trung bình bây giờ là bao nhiêu nhỉ?’ Hoặc là, ‘Julie này, khi anh chết liệu em có chặt đầu anh không?’ Lãng mạn quá phải không?”

Nàng nhìn qua cửa sổ máy bay, ngắm rặng núi ở đằng xa. “Tôi đã cố làm anh ấy bình thường lại. Cố hết sức để giữ anh ấy ở đây, nhưng trong mấy năm vừa rồi thì ai cũng thấy đấy. Anh ấy đã… đi rồi. Tôi không biết là nếu Chúa cứu thế hay vua Arthur sống lại để giải nguy cho cả thế giới thì liệu anh ấy có quay lại được không. Chứ tôi thì chắc chắn là không đủ sức.” Nàng nhìn tôi. “Nhưng liệu anh ấy có quay lại nữa không? Thành một người như các anh ấy?”

Tôi cụp mắt xuống, vẫn nhớ rõ mồn một vị óc mềm ngọt của gã. Tôi lắc đầu.

Nàng im lặng hồi lâu. “Không phải là tôi không buồn vì anh ấy chết. Tôi buồn chứ, tôi…” Giọng nàng hơi run run. Nàng ngừng lại và hắng giọng. “Tôi thực lòng thấy buồn. Nhưng anh ấy muốn chết. Tôi biết là anh ấy muốn thế.” Một giọt nước mắt trào ra, làm nàng có vẻ giật mình. Nàng gạt nó đi như gạt một con muỗi.

Tôi đứng dậy, cầm đĩa thức ăn của nàng bỏ vào thùng rác. Khi tôi ngồi xuống thì mắt nàng đã khô nhưng vẫn còn đỏ. Nàng sụt sịt mũi và yếu ớt mỉm cười với tôi. “Có lẽ tôi đã nói xấu Perry nhiều quá, nhưng tôi cũng chẳng phải là người vui vẻ lạc quan gì cho cam, anh biết không? Tôi cũng tan tác lắm. Chỉ khác là tôi… vẫn còn sống thôi. Như một vụ tai nạn đang tiếp diễn.” Nàng cất một tiếng cười ngắn, khùng khục. “Kỳ cục thật, tôi chưa bao giờ nói những chuyện này với bất kỳ ai, nhưng anh thì… ý tôi là anh im lặng quá, anh cứ ngồi đó lăng nghe, giống như là nói chuyện với…” Nụ cười của nàng tan biến và nàng lại có vẻ tư lự hồi lâu. Khi nàng lại lên tiếng, giọng nàng trở nên thận trọng nhưng dứt khoát hơn, và mắt nàng nhìn khắp cabin, xem xét từng cái đinh tán trên cửa sổ và những nhãn cảnh báo. “Hồi còn nhỏ tôi từng dùng ma túy. Bắt đầu lúc mười hai tuổi, và tôi đã thử gần như đủ mọi thứ. Giờ khi có dịp tôi vẫn uống rượu và hút cần sa. Thậm chí hồi mười ba tuổi có lần tôi từng ngủ với một gã để lấy tiền. Không phải vì tôi cần tiền – ngay từ hồi ấy tiền đã chẳng còn giá trị gì nữa. Chỉ vì đó là một việc khủng khiếp, và hình như tôi thấy tôi đáng bị như vậy.” Nàng nhìn xuống cổ tay, nhìn những vết sẹo mờ như dấu vào cửa của một buổi ca nhạc khủng khiếp nào đó. “Tất cả những điều tệ hại mà người ta tự làm với chính mình… có thể chỉ cùng là một điều thôi, anh biết không? Một cách để nhấn chìm giọng nói của mình. Để giết ký ức của mình mà không phải tự giết mình.”

Một quãng dài im lặng. Mắt nàng đưa khắp sàn, trong khi mắt tôi không rời mặt nàng, chờ đợi nàng trở lại. Nàng hít một hơi thật sâu, nhìn tôi, và khẽ nhún vai. “Nhún vai,” nàng nói nhỏ, rồi cố nặn ra một nụ cười.

Tôi chậm rãi đứng lên đi ra chỗ máy quay đĩa. Tôi chọn một trong những cái đĩa yêu thích của mình, một cái đĩa vô danh tập hợp các bài hát của Sinatra từ nhiều album khác nhau. Tôi cũng không biết sao tôi lại thích nó đến thế. Có lần tôi đã ngồi suốt ba ngày trời trước máy hát chỉ để ngắm chiếc đĩa quay. Tôi biết từng đường rãnh trên chiếc đĩa này còn rõ hơn những đường rãnh trên lòng bàn tay tôi. Người ta thường nói âm nhạc là một cách truyền đạt tuyệt vời tôi tự hỏi không biết điều đó có còn đúng nữa không trong cái thế giới ít người sống nhiều hơn người chết này. Tôi đặt đĩa lên, và khi nhạc cất lên tôi bắt đầu dịch chuyển cái kim, nhảy qua từng đoạn nhạc, từng bài hát, nhảy quanh từng vòng đĩa để tìm những lời tôi muốn đưa vào trong không khí. Từng lời hát vang lên lỗi điệu, lỗi nhạc, điểm thêm những tiếng xoèn xoẹt như xé vải, nhưng ý nghĩa thì không chê vào đâu được. Cho dù tôi có cách diễn đạt của một người nhà Kennedy đi chăng nữa thì giọng nam trung êm ái của Frank cũng nói được những điều tôi muốn nói giỏi hơn chất giọng khàn đục của tôi nhiều. Tôi đứng bên cái đĩa hát, cắt dán tiếng nói lòng tôi thành một bức tranh trong không gian.

Tôi không quan tâm nếu em bị gọi là–xoẹt–khi mọi người nói rằng em là-xoẹt–phép phù thủy xấu xa–xoẹt–đừng thay đổi với tôi dù chỉ là một sợi tóc, nếu em-xoẹt–vì em rất tuyệt vời–xoẹt–chỉ em đúng như thế này–xoẹt–em rất tuyệt vời… tuyệt vời… thế thôi…

Tôi để cái đĩa hát chơi bình thường cho đến hết và ngồi xuống trước mặt Julie. Nàng nhìn tôi chăm chú bằng cặp mắt ướt lệ, đỏ hoe. Tôi áp tay vào ngực nàng, cảm nhận tiếng đập nhẹ nhàng bên trong. Một chất giọng nhỏ xíu nói bằng mật mã.

Julie sụt sịt. Nàng quẹt một ngón tay qua mũi. “Anh là cái gì?” nàng hỏi tôi lần thứ hai.

Tôi thoáng mỉm cười. Rồi tôi đứng lên ra khỏi máy bay, để câu hỏi của nàng đọng lại đó mà vẫn không có câu trả lời. Trong lòng bàn tay mình tôi cảm thấy nhịp tim nàng vọng về, thay thế nhịp tim thiếu vắng của tôi.

Đêm đó, khi nằm trên sàn Cổng 12, tôi ngủ thiếp đi. Giấc ngủ mới này tất nhiên cũng khác biệt. Cơ thể chúng tôi không thấy “mệt”, chúng tôi không cần “nghỉ”. Nhưng đôi khi, sau nhiều ngày hay nhiều tuần thức chong chong, đầu óc chúng tôi không thể chịu nổi nữa, và chúng tôi quỵ ngã. Chúng tôi tự cho phép mình chết đi, ngừng hoạt động, không còn một suy nghĩ gì nữa trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tuần. Đủ lâu để thu thập lại những electron trong bản chất của chúng tôi, để giữ cho chúng tôi nguyên vẹn thêm chút nữa. Giấc ngủ ấy chẳng có gì là dễ chịu hay êm đềm nó đáng ghét và đầy miễn cưỡng, như một lá phổi nhân tạo cho cái vỏ khò khè của tâm hồn chúng tôi. Nhưng đêm nay, một điều khác lạ đã xảy ra.

Tôi nằm mơ.

Mờ ảo, nhạt nhòa, nhuốm một màu vàng đục như phim cũ hàng thế kỷ, những cảnh tượng trong cuộc đời trước kia của tôi lập lòe trong khoảng trống của giấc ngủ. Những dáng người vô định bước qua những cánh cửa đang tan chảy để đi vào những căn buồng tăm tối. Nhiều giọng nói luồn lách qua đầu tôi, trầm và lè nhè như những tên khổng lồ say rượu. Tôi chơi những môn thể thao không rõ rệt, tôi xem những bộ phim không đầu không cuối, tôi cười nói với những hình thù không tên tuổi. Giữa những bức ảnh thoáng qua của một cuộc sống chưa từng được ai xem xét, tôi thoáng nhìn thấy một thú vui, một điều gì đó mà xưa kia tôi đã say mê theo đuổi để rồi bị đem hiến lên bàn thờ đẫm máu của tính thực tế. Guitar ư? Khiêu vũ? Chơi xe địa hình? Cho dù là gì đi chăng nữa thì nó cũng không xuyên qua được lớp màn khói dày đặc bao phủ trí nhớ của tôi. Tất cả vẫn tối đen. Trống trơn. Vô danh.

Tôi đã bắt đầu tự hỏi mình từ đâu đến. Con người tôi hiện nay, cái kẻ ăn xin lúng túng vụng về này… có phải tôi đã xây dựng từ nền tảng cuộc sống cũ của mình, hay tôi đã đội mồ sống dậy như một tờ giấy trắng? Bao nhiêu phần trong con người tôi là được thừa hưởng lại, và bao nhiêu phần là do tôi tự tạo ra? Các câu hỏi trước kia vốn chỉ là những ý nghĩ vớ vẩn giờ bỗng trở nên cấp bách đến lạ làng. Liệu tôi có cội rễ gắn kết chắc chắn với con người tôi trước kia không? Hay là tôi có quyền chọn lựa thay đổi.

Tôi thức giấc và nhìn đăm đăm lên trần nhà cao tít. Những ký ức kia, vốn đã trống rỗng, giờ liền tan biến hoàn toàn. Trời vẫn còn tối, và tôi có thể nghe thấy tiếng vợ tôi hú hí với gã nhân tình mới đằng sau cánh cửa buồng nhân viên gần đó. Tôi cố lờ họ đi. Hôm nay tôi đã tình cờ bắt quả tang họ một lần rồi. Họ trần truồng nằm đó, vụng về áp người vào nhau, gầm ghè sờ soạng da thịt xám ngoét của nhau. Hắn cù rũ. Cô ta khô khốc. Họ nhìn nhau với vẻ bối rối, như thể một sức mạnh vô hình nào đó đã đẩy họ vào đống tay chân ướt át rối rắm này. Mắt họ như đang hỏi, “Mày là đứa quái nào?” trong khi họ giật đùng đùng như những con rối làm bằng thịt.

Họ không dừng lại hay thậm chí chẳng có phản ứng gì khi thấy tôi đứng đó. Họ chỉ nhìn tôi rồi tiếp tục cọ người vào nhau. Tôi gật đầu, rồi quay về Cổng 12, và đó chính là sức nặng cuối cùng đánh cho tâm trí tôi thành què quặt. Tôi quỵ xuống sàn và ngủ.

Tôi không biết sao bồn chồn xúc động thế mà chỉ sau vài giờ mình lại đã thức dậy rồi. Tôi vẫn còn cảm nhận được sức nặng của bao nhiêu ý nghĩ dồn nén trên bộ não yếu ớt của mình, nhưng tôi không nghĩ mình còn ngủ thêm được nữa. Có tiếng gì vo ve vù vù trong đầu tôi, làm tôi tỉnh như sáo. Tôi lần tay tìm thứ duy nhất có thể giúp được trong những lúc như thế này. Tôi cho tay vào túi và lấy ra mẩu óc cuối cùng.

Khi sức sống còn sót lại mờ dần khỏi não, những thứ linh tinh vô ích thường biến mất đầu tiên. Lời thoại từ các bộ phim, nhạc quảng cáo trên đài, tin lá cải về người nổi tiếng và khẩu hiệu chính trị, tất cả sẽ tan biến, chỉ để lại những ký ức rõ rệt, sâu sắc nhất. Khi bộ não chết đi, sự sống trong nó trở nên rõ ràng, cô đọng hơn. Nó đậm đà hơn theo thời gian, như một loại rượu vang thượng hạng vậy.

Mẩu óc trong tay tôi đã hơi khô, chuyển sang màu nâu nâu xam xám. Nó sắp hỏng rồi. Nếu tôi còn kiếm được thêm vài phút nữa từ ký ức của Perry thì cũng còn là may, nhưng đó sẽ là những phút rực rỡ sống còn biết nhường nào. Nhắm mắt lại, tôi bỏ nó vào miệng và vừa nhai vừa nghĩ, Đừng bỏ tôi vội, Perry. Chỉ một lát nữa thôi. Thêm một chút nữa thôi. Xin làm ơn.

Tôi lao ra khỏi đường hầm tối nghẹt, rơi vào một vùng đầy ánh sáng và âm thanh. Một làn không khí mới bao bọc lấy tôi, khô và lạnh, trong khi họ lau nốt dấu vết cuối cùng của quê hương trên da tôi. Tôi thấy đau nhói khi họ cắt một cái gì đó, và đột nhiên tôi thấy mình nhỏ bé hẳn. Tôi không còn là ai khác ngoài chính mình, bé nhỏ, yếu ớt, và cô đơn vô cùng. Tôi được nhấc lên và chuyền qua những tầm cao vời vợi, qua những vực thẳm toang hoác, và được đưa cho Mẹ. Mẹ ôm lấy tôi, to lớn hơn và mềm mại hơn nhiều so với những gì tôi đã tưởng tượng khi còn ở trong, và tôi cố mở mắt ra. Tôi nhìn thấy Mẹ. Mẹ thật vĩ đại, như cả vũ trụ, Mẹ là toàn bộ thế giới. Thế giới mỉm cười với tôi, và khi Mẹ lên tiếng, đó là giọng nói của Chúa, mênh mông vang vọng đầy ý nghĩa, nhưng toàn những từ ngữ mà tôi không thể hiểu nổi, ong ong trong cái đầu trống trơn của tôi.

Mẹ nói…

Tôi đang ở trong một căn buồng tối tăm, xiêu vẹo, tìm nhặt các vật liệu y tế cho vào hộp. Đi cùng tôi trong buổi thu gom này là một đám nhỏ dân thường, tất cả đều được Đại tá Rosso đích thân chọn, trừ một người. Một người đã tự xung phong. Một người đã nhìn thấy ánh mắt tôi và lo lắng. Một người muốn cứu tôi.

“Anh có nghe thấy không?” Julie nói và nhìn quanh.

“Không,” tôi đáp ngay, tay vẫn tiếp tục xếp đồ.

“Tớ thì có,” Nora bảo, gạt mớ tóc xoăn tít ra khỏi mắt. “Pear này, có khi bọn mình nên…”

“Bọn mình vẫn ổn. Chúng ta đã xem xét kỹ nơi này, nó an toàn mà. Cứ làm việc đi.”

Họ không ngừng quan sát tôi, căng thẳng như các hộ lý trong bệnh viện, lúc nào cũng sẵn sàng can thiệp. Việc ấy chẳng thay đổi được gì. Tôi sẽ không khiến họ lâm nguy nhưng tôi vẫn sẽ tìm ra cách. Khi chỉ còn một mình, khi không ai để ý, tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ khiến nó xảy ra. Họ vẫn luôn cố gắng nhưng tình cảm đẹp đẽ của họ chỉ làm tôi thêm quyết tâm mà thôi. Sao họ không hiểu là đã quá muộn rồi?

Một tiếng động. Giờ thì tôi cũng nghe thấy nó. Tiếng bước chân rầm rầm trên cầu thang, tiếng rên rỉ đồng thanh. Tai Julie thính hơn tai tôi nhiều đến thế ư, hay tôi đã ngừng lắng nghe? Tôi cầm khẩu súng trường lên và quay lại…

Không, tôi buột miệng kêu lên giữa chừng. Không phải cái này. Tôi không muốn thấy điều này.

Trước sự ngạc nhiên của tôi, tất cả ngưng lại. Perry ngẩng lên nhìn tôi, giọng nói vang vọng từ trên trời xuống. “Đây là ký ức của ta cơ mà, nhớ không? Ở đây mi chỉ là khách. Nếu mi không muốn thấy nữa thì nhổ nó ra đi.”

Tôi choáng váng. Ký ức không còn đi theo kịch bản định sẵn. Có phải tôi đang nói chuyện với chính bộ óc mà tôi đang tiêu hóa không? Tôi không biết có bao nhiêu phần là Perry thực sự và bao nhiêu là do tôi tưởng tượng ra, nhưng tôi đã bị cuốn theo.

Chúng ta phải nhìn thấy cuộc đời của cậu mới đúng! Tôi hét lên với gã. Không phải là cái này! Tại sao cậu lại muốn ý nghĩ cuối cùng của mình là ký ức về cái chết nhơ nhuốc, vô nghĩa của cậu?

“Mi nghĩ cái chết là vô nghĩa ư?” gã vặc lại, nạp một băng đạn vào súng. Julie và những người khác đứng tại chỗ chờ đợi như những đạo cụ trên phông màn, cựa quậy vẻ sốt ruột. “Lẽ nào mi không muốn nhớ lại cái chết của mi, nếu mi có thể? Nếu không thì làm sao mi dựa vào đó để biến mình thành cái mới được?”

Cái mới ư?

“Tất nhiên rồi, đồ thây ma ngu ngốc.” Gã ghé mắt vào ống ngắm và chậm rãi quét khẩu súng dọc căn phòng, dừng lại ở Berg một lát. “Có hàng ngàn kiểu cuộc sống và cái chết khác nhau trong phạm vi siêu hình, chưa nói đến phạm vi ẩn dụ nữa. Mi không muốn cả đời làm người chết chứ?”

Ờ, không…

“Nếu thế thì hãy thư giãn đi, và để ta làm điều ta cần phải làm.”

Tôi nuốt trôi cục nghẹn trong cổ, và nói, Được thôi…

… cầm khẩu súng trường lên và quay lại, đúng lúc tiếng chân bước rầm rập lên đến đúng tầng của chúng tôi. Cửa bật mở và chúng lao vào giữa những tiếng gào thét. Chúng tôi bắn, bắn, bắn mãi, nhưng bọn chúng quá đông và quá nhanh. Tôi khom người bên Julie, cố hết sức che chắn cho nàng.

Không. Lạy Chúa. Đây không phải điều tôi muốn.

Một tên cao gầy đột nhiên xuất hiện sau lưng tôi, túm lấy chân tôi. Tôi ngã xuống, đập đầu vào bàn, và màu đỏ rực tóe lên trong mắt tôi. Thế là hết, nhưng khi màu đỏ chuyển sang đen, tôi vẫn cho phép mình hét lên một tiếng sung sướng, một cơn cực khoái ích kỷ cuối cùng trước khi tôi ngủ say vĩnh viễn:

Cuối cùng. Cuối cùng thì nó cũng xảy ra!

Và rồi…

“Perry.” Có ai chọc chọc vào sườn tôi. “Perry!”

“Gì?”

“Đừng có ngủ quên đấy nhé.”

Tôi mở mắt ra. Mặt trời rọi xuống mi mắt nhắm chặt của tôi suốt một giờ đồng hồ đã khiến mọi màu sắc xung quanh ngả sang màu xám xanh, như một tấm áp phích phim cũ treo trong một cửa hàng cho thuê phim đang chết dần chết mòn. Tôi quay đầu nhìn nàng. Nàng cười tinh nghịch và lại chọc tôi cái nữa. “Thôi chẳng sao. Anh cứ ngủ đi.”

Đằng sau khuôn mặt nàng, tôi thấy những cây cột trắng cao vòi vọi đỡ vòm mái sân vận động, và sau đó nữa là bầu trời xanh thăm thẳm. Tôi từ từ chuyển mắt mình từ mặt nàng sang bầu trời, để mặt nàng mờ thành một đám mây màu hồng vàng, rồi lại nhìn vào mặt nàng.

“Gì thế?” nàng hỏi.

“Nói cho anh nghe một điều gì lạc quan đi.”

“Lạc quan kiểu gì ?”

Tôi ngồi dậy, vòng tay ôm đầu gối. Tôi nhìn thành phố xung quanh, nhìn những tòa nhà đang sụp đổ, những con phố trống trải, cùng bầu trời cô độc, sạch trong, xanh biếc và im lặng như tờ khi thiếu đi những chiếc máy bay vạch nên các nét trắng.

“Nói với anh rằng đây không phải là tận thế.”

Nàng nằm đó một lát, ngước lên nhìn bầu trời. Rồi nàng ngồi dậy kéo một chiếc tai nghe ra khỏi mớ tóc vàng rối bù. Nàng nhẹ nhàng nhét nó vào tai tôi.

Tiếng guitar bập bùng luyến láy, rồi giàn nhạc giao hưởng dồn lên, tiếng dàn đồng ca ngân vang, và giọng hát mệt mỏi, run run của John Lennon cất lên về tình yêu vô tận bất tử. Tất cả những người chơi bản nhạc này bao giờ đều đã thành xương khô trong mộ, nhưng họ vẫn đang ở đây, tạo cảm hứng cho tôi, mời mọc tôi, lôi kéo tôi. Đoạn nhạc cuối cùng khiến có gì đó vỡ vụn trong tôi, và mắt tôi trào lệ. Sự thật huy hoàng và lời nói dối không thể tránh khỏi, đang ở bên nhau giống như tôi và Julie. Tôi có thể có cả hai không? Liệu tôi có thể sống sót trong thế giới bị nguyền rủa này và vẫn yêu Julie, người có giấc mơ vượt xa hơn cả nó? Ít nhất là trong lúc này, khi nối liền với tâm trí nàng bởi sợi dây trắng giữa tai chúng tôi, tôi cảm thấy mình có thể.

Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi, Lennon hát đi hát lại. Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi.

Julie hát một khúc nhạc cao vút, và tôi khẽ hát theo bằng giọng trầm hơn. Đây, trên mái nhà trắng nóng bỏng che chắn tiền đồn cuối cùng của nhân loại, chúng tôi nhìn ra một thế giới đang bị thay đổi đến chóng mặt, thay đổi không sao còn cứu vãn được nữa, và chúng tôi hát:

Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi. Không gì có thể thay đổi được thế giới của tôi.

Tôi lại đang nhìn lên trần sân bay. Tôi bỏ mẩu óc cuối cùng của Perry vào miệng nhai, nhưng chẳng có gì xảy ra. Tôi nhổ nó ra như nhổ một miếng gân dai nhách. Câu chuyện đã chấm dứt. Cuộc sống ấy đã kết thúc.

Mắt tôi lại cay sè, muốn ứa những giọt nước mắt mà tuyến lệ tôi không còn sản sinh ra được nữa. Tôi thấy như mình vừa mất đi một người thân. Một người anh em. Một người anh em sinh đôi. Giờ linh hồn gã đang ở đâu? Tôi có phải là kiếp sau của Perry Kelvin không?

Cuối cùng thì tôi cũng chìm trở lại trong giấc ngủ. Tôi đang ở trong bóng tối. Những phân tử trí não tôi vẫn còn bay tứ tán, và tôi trôi nổi qua vùng bóng tối đặc quánh, cố gom chúng lại như bắt đom đóm. Mỗi lần đi ngủ là tôi lại biết mình có thể sẽ không bao giờ thức dậy được nữa. Ai dám mong đợi điều đó? Ta bỏ trí não nhỏ nhoi yếu ớt của mình vào một cái giếng không đáy, bắt tréo ngón tay cầu may mà hy vọng rằng khi ta kéo sợi dây câu mảnh dẻ để đem nó lên, nó vẫn chưa bị cắn nát bởi những con quái vật không tên bên dưới. Hy vọng rằng ta có thể kéo lên được một thứ gì đó. Có lẽ vì thế mà mỗi tháng tôi chỉ ngủ được một vài tiếng. Tôi không muốn chết lần nữa. Gần đây điều này ngày càng trở nên rõ rệt hơn, một mong muốn sâu sắc và cụ thể đến nỗi tôi hầu như không thể tin nổi nó là của mình: tôi không muốn chết. Tôi không muốn biến mất. Tôi muốn được ở lại.

TÔI BỊ ĐÁNH THỨC BỞI MỘT TIẾNG HÉT.

Tôi mở choàng mắt và nhổ mấy con bọ đã bay vào mồm. Tôi lảo đảo ngồi lên. Tiếng thét vọng lại từ đằng xa nhưng không phải từ khu Trường học. Tiếng hét này không có vẻ ai oán hoảng hốt của những tử thi vẫn còn thở của Trường. Tôi nhận ra một thoáng ngang ngạnh trong những tiếng hét ấy, thoáng chút hy vọng không hề nao núng trong cảnh vô vọng không thể phủ nhận được. Tôi chồm dậy và chạy nhanh hơn bất kỳ Xác Sống nào từ trước đến nay.

Lần theo tiếng hét, tôi tìm thấy Julie ở cổng Đi. Nàng đã bị dồn vào một góc, vây quanh là sáu Người Chết đang nhỏ dãi. Họ sán gần vào nàng, chỉ hơi lùi lại mỗi lần nàng huơ chiếc máy xén đang bốc khói, nhưng vẫn đều đặn tiến đến. Tôi lao vào họ từ đằng sau, phá vỡ vòng tròn khép chặt ấy, đẩy họ ra như những con ky bowling. Người đứng gần Julie nhất bị tôi đấm mạnh đến nỗi xương tay tôi nát nhừ tựa vỏ sò. Mặt hắn sụp vỡ và hắn gục xuống. Kẻ gần thứ hai thì tôi xô vào tường, rồi túm lấy đầu đập lên nền bê tông cho đến khi não hắn bục ra và hắn cũng gục xuống. Một tên túm lấy tôi từ phía sau và cắn một miếng vào sườn tôi. Tôi vòng tay lại, giật cánh tay thối rữa của hắn ra và vung nó dập vào hắn như Babe Ruth[1]. Đầu hắn quay quanh cổ đúng ba trăm sáu mươi độ, rồi ngoẹo sang bên, rách toạc, và rơi xuống. Tôi đứng chắn trước Julie, giơ cao cánh tay gân cốt ấy, và đám Người Chết thôi không tiếng lên nữa.

[1] Babe Ruth (1895-1948): một cầu thủ bóng chày nổi tiếng người Mỹ.

“Julie!” tôi gầm gừ với họ trong lúc chỉ vào nàng. “Julie!”

Họ nhìn tôi chằm chằm. Người họ lảo đảo tới lui.

“Julie!” tôi nhắc lại, không biết phải nói như thế nào. Tôi đến gần nàng và áp tay vào chỗ tim nàng. Tôi ném cây gậy làm bằng cánh tay xuống và đặt tay kia lên tim mình. “Julie.”

Cả phòng im lặng như tờ, chỉ còn tiếng rì rì của chiếc máy xén trong tay Julie. Không khí nồng nặc mùi xăng ổn định, như mùi mơ thối, và tôi nhận thấy vài xác chết cụt đầu mà tôi không hề động đến đang nằm dưới chân nàng. Giỏi lắm, Julie, tôi thầm nghĩ với một nụ cười phảng phất. Vừa là một quý cô vừa là một học giả.

“Cái… chó chết gì thế này!” một giọng trầm đục gầm lên sau lưng tôi.

Một dáng người to cao từ dưới sàn đứng dậy. Đó là người đầu tiên tôi tấn công, người bị tôi đấm vào mặt. Chính là M. Trong lúc sôi máu, tôi còn chẳng nhận ra anh. Giờ, với gò má bị lõm sâu vào trong mặt, trông anh còn khó nhận ra hơn. Anh trừng mắt nhìn tôi và xoa xoa mặt. “Làm… cái gì, mày…” Anh ngừng lại, lúng túng không tìm được cả những từ đơn giản nhất.

“Julie,” tôi nhắc lại một lần nữa, như thể đó là lời tranh cãi không sao bác bỏ được. Và theo một cách nào đó thì đúng vậy thật. Cái từ duy nhất đó, một cái tên toàn vẹn. Hiệu quả nó gây ra giống như khi giơ lên một chiếc điện thoại di động sáng ngời đang hoạt động lên trước mặt một đám người tiền sử vậy. Tất cả những Người Chết khác nhìn Julie, im bặt, chỉ trừ có M. Anh chẳng hiểu ra sao, và rất lấy làm tức tối.

“Người Sống!” anh lúng búng. “Ăn!”

Tôi lắc đầu. “Không.”

“Ăn!”

“Không!”

“Ăn, đồ chó…”

“Này!”

M và tôi cùng quay lại. Julie đã bước ra từ sau lưng tôi. Nàng nhìn M vẻ thách thức và giật dây cho cái mày rồ lên. “Xéo đi,” nàng nói. Nàng quàng tay qua khuỷu tay tôi, và tôi thấy một luồng hơi ấm truyền ra từ tay nàng.

M nhìn nàng, rồi nhìn tôi, rồi lại nhìn nàng, rồi lại nhìn tôi. Vẻ mặt nhăn nhó cố hữu của anh khó đăm đăm. Chúng tôi đang ở thế cân bằng, nhưng trước khi tình huống này kịp trở nên căng thẳng hơn thì sự im lặng bỗng bị phá vỡ bởi một tiếng gào vang vọng, như một tiếng còi không người thổi, nghe rợn người.

Tất cả chúng tôi quay về phía thang cuốn. Những bộ xương gân guốc ngả vàng đang từ từ đi từ tầng dưới lên. Một hội đồng Xương Khô xuất hiện từ cầu thang và tiến về phía tôi cùng Julie. Chúng dừng lại trước mặt chúng tôi rồi dàn ra thành một hàng. Julie lùi lại một chút, vẻ hiên ngang của nàng xẹp đi dưới cái nhìn bắn ra từ hốc mắt đen sì của chúng. Nàng siết chặt tay tôi hơn.

Một trong số bọn chúng tiến lên và dừng lại trước mặt tôi, cách tôi chỉ vài phân. Không hơi thở nào thoát ra từ cái miệng trống rỗng ấy, nhưng tôi nghe thấy một tiếng ro ro khe khẽ phát ra từ những khúc xương của nó. Tôi không có tiếng vang ấy, cả M hay bất kỳ Người Chết còn da thịt nào cũng không, và tôi bắt đầu tự hỏi những sinh vật khô đét này thực ra là cái gì. Tôi không thể tin vào bất kỳ tà phép hay bất kỳ virus được tạo ra trong phòng thí nghiệm nào nữa. Đây là một cái gì khác sâu sa hơn, đen tối hơn. Nó đến từ vũ trụ, từ các vì sao, hoặc từ bóng đen vô định đằng sau các vì sao. Nó là bóng tối trong tầng hầm bị bịt kín của Chúa.

Con quỷ ấy và tôi đứng đấu nhãn, chân chạm chân, mắt nhìn vào hốc mắt. Tôi không chớp mắt, còn nó thì có muốn cũng chẳng thể. Tôi cảm thấy như hàng giờ đồng hồ đã trôi qua. Rồi nó làm một điều khiến sự hiện diện của nó có phần bớt khủng khiếp hơn. Nó dùng những ngón tay nhọn hoắt giơ một xấp ảnh chụp lấy ngay và bắt đầu đưa từng cái một cho tôi. Tôi chợt nhớ đến một ông cụ tự hào khoe ảnh cháu mình, nhưng nụ cười nhăn nhở của bộ xương kia chẳng giống một người ông chút nào, và những bức ảnh thì cũng chẳng lấy gì làm ấm cúng.

Ảnh không chuyên, chụp một trận chiến nào đó. Binh lính đứng thành hàng bắn tên lửa vào ổ của chúng tôi, súng trường nhanh gọn tiêu diệt chúng tôi, một hai ba. Người dân thường tay cầm mã tấu và cưa xích chém chúng tôi như chặt dây mâm xôi dại, làm máu chúng tôi bắn đen sì cả ống kính. Những đống thây ma khổng lồ bị rưới xăng và đốt cháy.

Khói. Máu. Những bức ảnh gia đình từ chuyến du ngoạn xuống Địa Ngục của chúng tôi.

Nhưng dù những bức ảnh ấy có đáng sợ đến đâu thì tôi cũng đã nhìn thấy chúng từ trước rồi. Tôi đã chứng kiến bọn Xương Khô khoe chúng hàng chục lần, chủ yếu là với đám trẻ con. Chúng đi lang thang quanh sân bay, máy ảnh lủng lẳng trên đốt sống cổ, thỉnh thoảng bám theo chúng tôi trong những chuyến đi săn, lùi lại phía sau để ghi lại những cảnh đổ máu, và tôi luôn tự hỏi chúng làm thế vì mục đích gì. Chủ đề của chúng không bao giờ thay đổi: thây ma. Trận chiến. Những Xác Sống mới chuyển. Và bản thân chúng nữa. Phòng họp của chúng dán đầy những bức ảnh này từ tường đến trần, và thỉnh thoảng chúng lại lôi một Xác Sống trẻ tuổi nào đó vào trong, bắt nó đứng đó hàng giờ, thậm chí là hàng bao nhiêu ngày, để im lặng chiêm ngưỡng tuyệt tác của chúng.

Giờ thì bộ xương này, giống hệt những bộ xương kia, đang đưa các bức ảnh cho tôi một các chậm rãi và lịch sự, tự tin nghĩ rằng những bức ảnh đã đủ minh chứng cho điều nó muốn nói. Bài học của buổi thuyết giáo hôm nay đã quá rõ: điều không thể tránh khỏi. Kết quả nhị phân không thể thay đổi mỗi khi chúng tôi đối mặt với Người Sống.

Họ chết/ chúng tôi chết.

Một âm thanh vang ra từ chỗ đáng lẽ phải là họng của bộ xương, một tiếng kêu khùng khục đầy tự hào, chê trách và nặng trĩu tính đạo đức cứng nhắc. Tiếng kêu ấy đã nói rất cả những điều mà bộ xương này và đám Xương Khô có thể nói ra, khẩu hiệu và thần chú của chúng. Nó nói, Ta đã đúng, và Mọi chuyện phải là như thế và Bởi vì ta như thế.

Mắt không rời hốc mắt của bộ xương, tôi để những bức ảnh rơi xuống đất. Tôi xoa xoa mấy ngón tay vào nhau như để phủi bụi.

Bộ xương không phản ứng. Nó cứ tiếp tục nhìn tôi bằng cái nhìn trống rỗng khủng khiếp ấy, im lìm đến nỗi như thể nó đã dừng cả thời gian lại. Tiếng vo vo đáng sợ từ những khúc xương của nó át hết tất thảy mọi thứ, một sóng sin thấp đầy những âm điệu chua chát. Và rồi, đột ngột đến nỗi làm tôi giật bắn mình, nó quay ngoắt người đi về phía đồng loại của mình. Nó phát ra một tiếng còi cuối cùng, và đám Xương Khô đi xuống thang cuốn. Những Người Chết còn lại tản đi, thỉnh thoảng lại lén nhìn Julie vẻ thèm thuồng. M là người cuối cùng. Anh cau mày nhìn tôi, rồi cũng lảo đảo bỏ đi. Julie và tôi chỉ còn lại một mình.

Tôi quay lại với nàng. Giờ khi mọi chuyện đã bình thường trở lại và máu trên sàn đã dần khô, tôi mới có thể ngẫm nghĩ xem điều gì đã xảy ra, và đâu đó trong lồng ngực, trái tim tôi khò khè run rẩy. Tôi đưa tay về phía tấm biển mà tôi đoán chỉ là cổng “Đi” và nhìn về phía Julie dò hỏi, không giấu nổi nỗi đau trong mắt mình.

Julie nhìn xuống sàn. “Đã qua mấy ngày rồi,” nàng lí nhí. “Anh nói là chỉ mấy ngày thôi mà.”

“Muốn… đưa cô về. Nói chia tay. Muốn… bảo vệ cô. An toàn.”

“Tôi phải đi. Tôi xin lỗi, nhưng tôi buộc phải đi. Ý tôi là tôi không thể ở lại đây được. Anh hiểu điều đó, phải không?”

Phải. Tất nhiên là tôi hiểu.

Nàng nói đúng, và tôi thật lố bịch.

Tuy thế…

Nhưng, biết đâu…

Tôi muốn làm một điều không tưởng. Một điều bất ngờ chưa ai nghe nói đến. Tôi muốn cọ sạch rêu bám trên Tàu Không gian để đưa Julie lên mặt trăng và ở lại đó, hoặc lái một con tàu du lịch bị đắm đến một hòn đảo xa xôi nơi không có ai phản đối chúng tôi, hoặc nắm lấy phép thuật đã cho phép tôi nhập bào não Người Sống rồi dùng nó để đưa Julie vào não tôi, bởi vì trong đó ấm áp, yên tĩnh và rất dễ chịu, và ở trong đó chúng tôi không phải là một sự lệch lạc đến ngớ ngẩn, mà là một cặp đôi hoàn hảo.

Cuối cùng nàng cũng nhìn vào mắt tôi. Trông nàng như một đứa bé đi lạc, bối rối và buồn bã. “Cám ơn vì đã… ờ, đã cứu mạng tôi. Một lần nữa.”

Tôi phải cố gắng lắm mới thoát ra khỏi dòng suy nghĩ của mình và mỉm cười với nàng. “Không… có gì.”

Nàng ôm tôi. Mới đầu còn rụt rè, hơi sợ hãi một chút, và phải, có phần ghê ghê nữa, nhưng rồi nàng buông trôi theo nó. Nàng ngả đầu lên cái cổ lạnh ngắt của tôi và ghì chặt lấy tôi. Không thể tin nổi điều đang xảy ra, tôi vòng tay quanh người nàng và cứ ôm lấy nàng như thế.

Tôi gần như dám thề rằng tôi cảm thấy tim mình đang đập. Nhưng chắc đó chỉ là tim nàng áp chặt vào ngực tôi mà thôi.

Chúng tôi quay về chỗ chiếc 747. Vẫn chưa giải quyết được vấn đề gì, nhưng nàng đã đồng ý hoãn cuộc đào tẩu của mình lại. Sau cảnh rắc rối mà chúng tôi vừa gây ra, tốt hơn hết chúng tôi nên lánh mặt một thời gian. Tôi không biết đám Xương Khô sẽ phản đối sự có mặt trái quy luật của Julie đến mức nào, bởi vì đây là lần đầu tiên tôi có lý do để chống lại chúng. Chuyện này chưa hề có tiền lệ.

Chúng tôi đi vào một hành lang qua đường nằm phía trên một bãi đổ xe, tóc Julie bay tung trong làn gió đang xào xạc thổi qua những ô kính vỡ. Những chậu cây cảnh trong nhà tràn ngập hoa cúc dại. Khi nhìn thấy chúng, Julie mỉm cười hái một bó. Tôi nhặt một bông trong tay nàng và vụng về cài nó vào tóc nàng. Bông hoa vẫn còn lá và chĩa ra chỏng chơ từ một bên đầu nàng. Nhưng nàng cứ để yên như thế.

“Anh có nhớ sống với những người khác là như thế nào không?” nàng hỏi trong lúc chúng tôi đi. “Trước khi anh chết ấy?”

Tôi lơ đãng phẩy tay.

“Bây giờ mọi chuyện đã khác rồi. Khi tôi lên mười thì quê tôi mới bị tàn phá và chúng tôi phải đến đây, nên tôi vẫn còn nhớ trước kia như thế nào. Giờ tất cả đều thay đổi nhiều lắm. Mọi thứ đều nhỏ lại, chật chội hơn, ồn ào hơn, và lạnh hơn.” Nàng dừng lại trên hành lang đường bộ và nhìn qua khung cửa trống trơn, ngắm cảnh hoàng hôn nhàn nhạt bên ngoài. “Giờ tất cả chúng tôi đều bị dồn vào sân vận động, chẳng biết làm gì ngoài sống sót cho đến hết ngày. Không ai viết, không ai đọc, thậm chí hầu như chẳng ai nói chuyện với nhau.” Nàng xoay xoay bó hoa cúc trong tay và ngửi một bông. “Chúng tôi không trồng hoa nữa. Chỉ trồng lương thực thôi.”

Tôi nhìn qua cửa sổ đối diện, nhìn hoàng hôn đang tối dần. “Vì chúng tôi.”

“Không, không phải vì các anh. Ý tôi là, ừ, đúng là vì các anh thật, nhưng không chỉ có thế đâu. Anh quả thực không nhớ trước kia thế nào ư? Với những sụp đổ chính trị và xã hội ấy? Lũ lụt toàn cầu? Chiến tranh, bạo loạn, những vụ ném bom không ngừng? Thế giới đã tiến gần đến ngày tận thế lắm rồi, trước khi các anh xuất hiện. Các anh chỉ là phán quyết cuối cùng thôi.”

“Nhưng chúng tôi lại… đang giết các bạn. Trong lúc này.”

Nàng gật đầu. “Đúng thế, lúc này thì Xác Sống là mối nguy hiểm trước mắt. Khi mà gần như ai chết đi cũng sống lại và giết thêm hai người nữa thì… đúng là một phép toán đáng sợ. Nhưng vấn đề cốt lõi lớn hơn thế nhiều, hoặc cũng có thể là nó nhỏ hơn, sâu xa hơn, và cho dù có giết cả triệu Xác Sống thì cũng không thể giải quyết được nữa, bởi vì sẽ luôn có thêm nhiều vấn đề khác.”

Hai Người Chết xuất hiện sau một khúc quanh và lao vào Julie. Tôi dập đầu họ vào nhau và họ gục nhanh chóng, tự hỏi không biết trong cuộc đời trước kia tôi có từng học võ không. Tôi có vẻ khỏe hơn nhiều so với dáng người gầy gò của mình.

“Bố tôi không quan tâm đến những điều đó,” Julie nói tiếp khi chúng tôi đi tới đường lên máy bay và vào trong khoang. “Khi vẫn còn chính phủ thì ông từng là một vị tướng trong quân đội, nên ông chỉ có một cách suy nghĩ duy nhất thôi. Xác định mối nguy, tiêu diệt mối nguy, đợi lệnh từ cấp trên. Nhưng vì cấp trên đã biến mất và những người điều khiển đã chết hết, giờ chúng tôi biết làm gì đây? Không ai biết, nên chúng tôi chẳng làm gì cả. Chỉ gom góp đồ tiếp tế, giết Xác Sống, và mở rộng tường vây vào sâu hơn trong thành phố. Nói đơn giản thì cách cứu nhân loại của bố tôi là xây một cái hộp bê tông thật to, bỏ tất cả mọi người vào đấy, rồi ôm súng đứng canh ngoài cửa cho đến khi chúng tôi chết già.” Nàng ngồi ngả lên ghế, hít một hơi thật sâu, rồi lại thở hắt ra. Giọng nàng nghe mệt mỏi vô cùng. “Ý tôi là sống sót thì tất nhiên là quan trọng rồi,” nàng nói. “Nhưng phải có cái gì đó hơn thế nữa chứ, phải không?”

Tôi lan man nghĩ về mấy ngày vừa qua, và đột nhiên tôi chợt nghĩ đến hai đứa con tôi. Cái cảnh chúng ngồi trong hành lang chơi với cái dập ghim và cười với nhau. Cười. Tôi đã bao giờ thấy đứa trẻ Người Chết nào khác cười chưa? Tôi không nhớ. Nhưng khi nghĩ đến chúng, nghĩ đến ánh mắt chúng khi chúng ôm lấy chân tôi, tôi thấy những cảm xúc lạ lùng trào lên trong lòng. Ánh mắt ấy là gì nhỉ? Nó từ đâu đến? Trong bộ phim tuyệt vời chiếu lên trên mặt chúng ấy, bản nhạc du dương nào đang chơi? Lời thoại nói bằng thứ tiếng gì? Có thể dịch ra được không?

Khoang máy bay im lặng trong chốc lát. Julie nằm ngửa và ngoẹo đầu nhìn ngược ra cửa sổ. “Anh sống trong một cái máy bay, R ạ,” nàng nói. “Thích thật. Tôi nhớ cái cảm giác nhìn thấy máy bay trên trời. Tôi đã nói với anh là tôi nhớ máy bay như thế nào chưa nhỉ?”

-“Come Fly with Me”.

Tôi đi đến chỗ máy quay đĩa. Cái đĩa Sinatra vẫn đang chạy quanh một rãnh trống, vì vậy tôi liền đẩy kim đến bài “Hãy bay cùng tôi”.

Julie mỉm cười. “Hay đấy.”

Tôi nằm lên sàn và đặt tay lên ngực, mắt nhìn lên trần, mồm lẩm nhẩm lung tung theo lời hát.

“Mà tôi cũng đã nói với anh là, theo một cách kỳ quặc nào đó, thì ở đây cũng khá dễ chịu chưa nhỉ?” Julie xoay đầu lại nhìn tôi. “Ý tôi là ngoài việc suýt bị ăn đến bốn lần ấy. Đã bao nhiêu năm rồi tôi mới lại có thời gian rảnh rỗi để hít thở, để suy nghĩ và nhìn ra ngoài cửa sổ. Và anh có một bộ sưu tập đĩa hát cũng không đến nỗi nào.”

Nàng thò tay xuống cắm một bông hoa cúc lên hai bàn tay tôi đang chắp lại, rồi cười khúc khích. Mất một lúc tôi mới nhận ra là trông mình giống một tử thi trong đám tang kiểu xưa. Tôi ngồi bật dậy như bị sét đánh, và Julie cười phá lên. Tôi cũng không thể không mỉm cười.

“Và anh có biết chuyện điên rồ nhất là gì không, R?” nàng nói. “Đôi khi tôi gần như không tin nổi anh là Xác Sống. Đôi khi tôi nghĩ anh chỉ đang bôi phấn hóa trang thôi, bởi vì khi anh cười thì… đúng là khó tin thật.”

Tôi lại nằm xuống và bắt tay sau đầu. Vì ngượng, tôi giữ cho mặt mình vô cảm cho đến khi Julie ngủ thiếp đi. Rồi tôi để cho nụ cười dần dần trở lại trên mặt, và tôi cười nhìn trần nhà trong lúc những ngôi sao dần sáng lên ngoài cửa.

Chiều muộn ngày hôm sau, tiếng ngáy khe khẽ của nàng dừng lại. Vẫn nằm nguyên trên sàn, tôi đợi nghe những tiếng động nàng phát ra khi thức giấc. Tiếng nàng đổi tư thế, tiếng hít thở sâu, tiếng rên khe khẽ.

“R này,” nàng nói giọng còn ngái ngủ.

“Sao?”

“Anh biết không, họ nói đúng đấy.”

“Ai?”

“Mấy bộ xương ấy mà. Tôi đã thấy những bức ảnh họ chỉ cho anh. Họ đã đúng khi nghĩ rằng chuyện đó có thể xảy ra.”

Tôi không nói gì.

“Một người trong số bọn tôi đã thoát. Khi nhóm các anh tấn công, cô bạn Nora của tôi đã trốn dưới một cái bàn. Cô ấy đã thấy anh… bắt tôi. An ninh có thể sẽ mất chút thời gian để phát hiện ra anh đã đưa tôi về tổ nào, nhưng rồi họ sẽ phát hiện ra thôi, và bố tôi sẽ đến. Bố sẽ giết anh.”

“Tôi đã… chết rồi,” tôi nói.

“Không, không phải,” nàng ngồi dậy nói. “Rõ ràng anh chưa chết.”

Tôi nghĩ về điều nàng vừa nói trong giây lát. “Cô muốn… quay về.”

“Không,” nàng nói, rồi có vẻ giật mình. “Ý tôi là có, tất nhiên là có, nhưng…” Nàng rên lên bực dọc. “Cũng chẳng quan trọng gì, tôi phải quay về thôi. Họ sẽ đến đây xóa sổ các anh. Tất cả các anh.”

Tôi lại im bặt.

“Tôi không muốn chịu trách nhiệm vì chuyện đó, được chứ?” Vừa nói nàng vừa có vẻ như đang suy xét điều gì. Giọng nàng căng thẳng, đầy bối rối. “Tôi đã luôn được dạy rằng Xác Sống chỉ là những thây ma biết đi cần phải bị tiêu diệt, nhưng… nhìn anh mà xem. Anh không chỉ là một cái xác, phải không? Vậy lỡ còn nhiều người khác giống như anh thì sao?”

Mặt tôi đanh lại.

Julie thở dài. “R này… có lẽ anh sến đến độ tin rằng tử vì đạo thì thật lãng mạn, nhưng còn những người khác thì sao? Các con anh chẳng hạn? Chúng sẽ ra sao?”

Nàng đang đẩy tâm trí tôi đến những con đường nó ít khi đặt chân tới. Trong suốt bao nhiêu tháng hay bao nhiêu năm ở đây, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng những sinh vật đang đi quanh tôi cũng là con người. Họ có nhân hình, đúng thế, nhưng không phải là con người. Chúng tôi ăn, ngủ và đi qua màn sương, như đang tham gia một cuộc ma ra tông không có đích, không có huy chương, không được ai cổ vũ. Không một cư dân nào của sân bay tỏ ra kinh hoàng khi tôi giết bốn người đồng loại. Chúng tôi coi mình cũng như Người Sống thôi: là thịt. Vô danh, vô hình, có thể bị vứt bỏ. Nhưng Julie đã đúng. Tôi có suy nghĩ. Tôi cũng có một chút linh hồn, cho dù cái linh hồn ấy có teo tóp vô dụng đến thế nào đi chăng nữa. Vì vậy có lẽ những người kia cũng thế. Có thể ở đây còn cái gì đó đáng được cứu.

“Được,” tôi nói. “Cô sẽ… phải về.”

Nàng lẳng lặng gật đầu.

“Nhưng tôi sẽ… đi cùng.”

Nàng bật cười. “R! Đi đến sân vận động à? Anh điên rồi chắc?”

Tôi lắc đầu.

“Được, thế thì hãy nghĩ về việc này một chút đã, được chứ? Anh ấy à? Là một Xác Sống. Cho dù anh có được bảo quản tốt và có vẻ dễ thương đến thế nào đi chăng nữa thì anh cũng vẫn cứ là Xác Sống, và thử đoán xem tất cả những người từ mười tuổi trở lên trong sân vận động đã luyện tập cái gì bảy ngày một tuần nào?”

Tôi không đáp.

“Chính xác. Giết Xác Sống. Vì thế, để tôi nói cho rõ hơn – anh không thể đi với tôi được. Vì họ sẽ giết anh.”

Tôi nghiến răng. “Thì sao?”

Nàng nghiêng đầu sang bên, và vẻ mỉa mai của nàng biến mất. Giọng nàng trở nên ngần ngừ. “Anh nói ‘thì sao’ nghĩa là thế nào? Anh muốn chết à? Chết thực sự ấy?”

Phản ứng đầu tiên của tôi là nhún vai. Đã từ lâu tôi luôn trả lời mọi câu hỏi bằng cái nhún vai. Nhưng khi nằm trên sàn, thấy cặp mắt lo lắng của nàng nhìn xuống tôi, tôi chợt nhớ đến cảm giác đã xuyên suốt qua tôi khi tôi thức dậy ngày hôm qua, cái cảm giác của Không! và Có! Cái cảm giác chống-nhún-vai.

“Không,” tôi nói với trần máy bay. “Tôi không muốn chết.”

Nói dứt lời, tôi mới nhận ra tôi vừa phá vỡ kỷ lục về âm tiết của chính mình.

Julie gật đầu. “Tốt.”

Tôi hít một hơi thật sâu và đứng dậy. “Cần… suy nghĩ,” tôi nói nhưng tránh nhìn vào mắt nàng. “Quay lại… ngay. Khóa… cửa.”

Tôi rời khỏi máy bay, và mắt nàng dõi theo tôi.

Mọi người nhìn tôi chằm chằm. Ở sân bay này tôi vốn luôn là kẻ lập dị, nhưng giờ thì sự bí hiểm của tôi đã đặc quánh lại như rượu pooc tô. Tôi vừa đặt chân vào một căn phòng là tất cả mọi người ngừng cử động và chuyển sang theo dõi tôi. Nhưng nét mặt họ cũng không hẳn là dữ tợn. Trong vẻ trách móc của họ có ẩn giấu một thoáng mê hoặc thích thú.

Tôi thấy M đang ngắm bóng mình trong một ô cửa sổ ở sảnh, một ngón tay chọc ngoáy trong miệng. Tôi nghĩ anh đang cố sửa lại mặt mình.

“Chào,” tôi nói, đứng cách một quãng an toàn.

Anh lườm tôi một cái, rồi quay lại nhìn vào cửa sổ. Anh ấn mạnh vào hàm trên, và xương gò má của anh được đẩy về chỗ cũ đánh rắc một cái. Anh quay sang tôi mỉm cười. “Trông… thế nào?”

Tôi phẩy phẩy tay vẻ không chắc chắn. Một nửa mặt anh giờ trông khá bình thường, nhưng nửa kia vẫn còn hơi… lõm xuống.

Anh thở dài và lại nhìn vào cửa sổ. “Tin… xấu… với các quý cô.”

Tôi cười. Mặc dù chúng tôi rất khác nhau, tôi vẫn phải phục M một vài điểm. Anh là Xác Sống duy nhất tôi biết còn giữu lại được chút tính hài hước rơi rớt. Một điều đáng ghi nhận nữa… bốn âm tiết liền nhau không ngừng. Anh vừa mới đạt được kỷ lục cũ của tôi.

“Xin lỗi,” tôi bảo anh. “Vì… chuyện đó.”

Anh không đáp lại.

“Nói chuyện… một phút nhé?”

Anh chần chừ, rồi lại nhún vai. Anh theo tôi đến dãy ghế gần nhất. Chúng tôi ngồi xuống trong một quán Starbucks tối mò, đã thôi hoạt động từ lâu. Hai ly espresso mốc meo nằm trước mặt chúng tôi, bị bỏ lại từ bao giờ bởi hai người bạn nào đó, hay hai người đồng nghiệp, hay hai kẻ mới gặp nhau trong sân bay và làm thân nhờ cùng có chung sở thích với não người.

“Rất… xin lỗi,” tôi nói. “Dạo này. Dễ… cáu.”

M cau mày. “Cậu… làm sao… thế?”

“Không… biết.”

“Đem… cô Người Sống… về?”

“Ừ.”

“Cậu… điên à?”

“Chắc vậy.”

“Nó… như thế nào?”

“Cái gì?”

“Ngủ với… Người Sống.”

Tôi ném cho anh một cái nhìn cảnh cáo.

“Cô ấy… hot đấy. Tôi thì…”

“Im đi.”

Anh cười. “Đùa… cậu thôi.”

“Không… phải thế. Không… như thế.”

“Không thì… là cái gì?”

Tôi ngập ngừng không biết trả lời ra sao. “Hơn thế.”

Mặt anh trở nên nghiêm trang đến phát sợ. “Cái gì. Tình yêu à?”

Tôi nghĩ về điều này, và tôi không tìm được câu trả lời nào ngoài một cái nhún vai đơn giản. Vì vậy tôi nhún vai, cố không mỉm cười.

M ngửa đầu về phía sau và phát ra một tiếng cười thành thật nhất mà anh có thể. Anh đấm mạnh vai tôi. “Chú nhóc… của tôi! Đang… yêu đấy! Ha!”

“Tôi sẽ đi… với cô ấy,” tôi bảo anh.

“Đi đâu?”

“Đưa cô ấy… về nhà.”

“Sân vận động?”

Tôi gật đầu. “Bảo vệ… cô ấy.”

M ngẫm nghĩ về điều này, vẻ lo lắng ánh lên trên khuôn mặt thâm tím của anh trong khi anh quan sát tôi.

“Tôi… biết,” tôi thở dài.

M khoanh tay trước ngực. “Cậu… làm sao… thế?” anh hỏi lại tôi.

Và một lần nữa, tôi lại không biết trả lời như thế nào ngoài nhún vai.

“Cậu… ổn chứ?”

“Đang thay đổi.”

Anh boăn khoăn gật đầu, và cái nhìn tò mò của anh khiến tôi lúng túng. Tôi không quen nói những câu chuyện sâu sắc với M. Hay thực ra là với bất kỳ Người Chết nào khác. Tôi xoay xoay cốc cà phê trong tay, chăm chú ngắm nghía những cục mốc xanh trong lòng cốc.

“Khi nào… hiểu ra…” mãi rồi M mới lên tiếng, với giọng chân thành mà tôi chưa bao giờ thấy anh dùng đến, “nói cho… tôi biết. Nói cho… chúng tôi biết.”

Tôi đợi anh pha trò, biến nó thành một câu nói đùa, nhưng anh không làm thế. Anh nói thực lòng.

“Được,” tôi đáp. Tôi vỗ vào anh rồi đứng dậy. Khi tôi quay đi, anh nhìn tôi cũng với cái vẻ kỳ lạ mà tôi đã thấy trên mặt những Người Chết khác. Cái vẻ pha trộn giữa bối rối, sợ hãi, và một thoáng chờ đợi.

CẢNH TƯỢNG lúc tôi và Julie ra khỏi sân bay gần giống như một đám rước dâu hay dãy xếp hàng ở một bữa ăn tự chọn. Người Chết đứng thành hàng dọc các hành lang để nhìn chúng tôi đi qua. Tất cả mọi người đều có mặt. Họ có vẻ bị kích động, bồn chồn không yên, và rõ ràng là chỉ muốn được xông vào ngấu nghiến Julie, nhưng họ không nhúc nhích hay phát ra một tiếng động nào. Mặc kệ lời phản đối gay gắt của Julie, tôi đã nhờ M dẫn chúng tôi ra. Anh đi theo sau chúng tôi vài bước, dáng người khổng lồ đầy cảnh giác, mắt không rời đám đông như một nhân viên Mật vụ.

Sự im lặng không bình thường của một căn phòng đầy những người không còn thở nữa thật là quái gở.

Tôi thề là tôi gần như nghe được tiếng tim Julie đập thình thịch. Nàng cố bước thật bình tĩnh và tỏ ra phớt lạnh, nhưng cặp mắt láo liên đã phản lại nàng.

“Anh có chắc về chuyện này không đấy?” nàng thì thầm.

“Có.”

“Phải có đến… hàng trăm người bọn họ đấy.”

“Bảo vệ cô.”

“Phải rồi, phải rồi, bảo vệ, làm sao mà tôi quên được.” Giọng nàng nhỏ lại. “Nói thật nhé, R… đúng là tôi đã thấy anh hạ gục mấy người, nhưng anh cũng biết thừa là nếu giờ có ai bỗng dưng reo chuông báo giờ ăn thì tôi sẽ biến thành sushi ngay tức khắc cho xem.”

“Không… đâu,” tôi bảo nàng một cách tự tin đến không ngờ. “Chúng ta là… cái mới. Chưa ai… thấy bao giờ. Nhìn họ xem.”

Nàng ngó kĩ hơn những khuôn mặt xung quanh, và tôi hi vọng nàng cũng thấy được điều tôi nhìn thấy. Những phản ứng kì lạ họ dành cho chúng tôi, dành cho sự khác biệt mà chúng tôi là đại diện. Tôi biết họ sẽ để cho chúng tôi qua, nhưng Julie có vẻ không chắc chắn. hơi thở nàng trở nên khò khè. Nàng loay hoay lục trong túi ra một lọ thuốc hít, hít một hơi rồi nín thở, mắt vẫn không ngừng đảo quanh.

“Cô sẽ ổn thôi” M nói bằng giọng trầm đục.

Nàng thở hắt ra và quay ngoắt lại trừng mắt nhìn anh. “Ai hỏi mày, đồ chó bị thịt? Lẽ ra hôm qua tao phải cắt mày làm đôi mới phải.”

M bật cười và nhướng mày với tôi. “Cô nàng mạnh mẽ đấy… ‘R’ ạ.”

Chúng tôi tới được cổng. Đi mà không bị ai quấy rầy. Khi bước ra ngoài trời, tôi cảm thấy một nỗi lo lắng cồn cào trào lên trong bụng. Mới đầu tôi tưởng đó chỉ là nỗi sợ thường trực của tôi đối với bầu trời rộng mở, giờ đang trùm lên chúng tôi với những màu xám và tím như một vết bầm, cuồn cuộn những đám mây dông cao tít. Nhưng không phải là vì bầu trời. Tôi nghe thấy âm thanh ấy. Cái tiếng rung trầm trầm, như những tên điên giọng nam trung đang ngâm nga một khúc đồng dao. Tôi không biết có phải vì tôi đã quên nghe nó hơn hay vì âm thanh ấy đã to lên thật, nhưng tôi đã nghe được nó từ trước khi đám Xương Khô ấy xuất hiện.

“Chết tiệt, trời ơi, chết tiệt” Julie thì thào thốt lên.

Chúng tiến đến cả từ hai góc dành cho xe thả khách và đứng thành một hàng trước mặt chúng tôi. Tôi chưa bao giờ thấy nhiều bộ xương tụ tập cùng một chỗ như thế. Tôi thậm chí còn không biết là bọn chúng đông đến vậy, ít nhất là trong sân bay này.

“Rắc rối rồi,” M nói. “Trông chúng… cáu đấy.”

Anh nói đúng. Trong dáng vẻ của chúng có gì đó khang khác. Chúng trông cứng nhắc hơn, nếu điều đó là có thể. Hôm qua chúng là một bồi thẩm đoàn bước ra để xem xét vụ việc của chúng tôi. Hôm nay chúng là quan tòa tuyên án. Hoặc cũng có thể là những tên đao phủ thi hành án.

“Đi đây!” tôi hét lên với chúng. “Đưa cô ấy về! Để họ sẽ không… đến đây nữa.”

Những bộ xương không cử động hay đáp lại. Từng khúc xương của chúng vẫn ngân vang nốt nhạc xa lạ chua chát.

“Các người…muốn gì?” tôi hỏi.

Tất cả những bộ xương ở hàng đầu đồng loạt giơ tay lên chỉ vào Julie. Tôi chợt nhận ra rằng điều này không bình thường đến thế nào, rằng bản chất những sinh vật này khác chúng tôi đến thế nào. Người Chết chỉ trôi nổi trên một mặt biển cán nản mờ sương. Họ không làm gì một cách đồng loạt cả.

“Đưa cô ấy về!” tôi hét to hơn, lúng túng không biết phải nói thế nào cho ra lẽ. “Nếu… giết cô ấy… họ sẽ đến đây. Giết… chúng ta!”

Chúng không hề ngần ngừ, không mất lấy một giây nào để suy nghĩ về bất kì điều gì tôi vừa nói, chúng đã định sẵn một loạt câu trả lời và đưa ra câu trả lời ấy ngay lập tức. Đồng loạt, như những thầy tu quỷ sứ tụng bản kinh chiều của Địa Ngục, chúng phát ra thứ âm thanh nọ từ ***g ngực. Chúng là một đám đông kiêu hãnh đưa ra lời kết tội không thể bác bỏ, và mặc dù chúng không nói ra một từ nào, tôi hiểu rõ chúng muôn nói gì:

Không cần nói.

Không cần nghe.

Đã biết tất cả.

Cô ta không được đi.

Chúng ta sẽ giết cô ta.

Mọi việc phải như vậy.

Đã luôn như vậy.

Sẽ luôn như vậy.

Tôi nhìn Julie. Nàng run lẩy bẩy. Tôi nắm lấy tay nàng và nhìn M. Anh gật đầu.

Với hơi ấm từ mạch đập trong tay Julie truyền qua những ngón tay giá băng của mình, tôi chạy.

Chúng tôi chạy về phía trái, hòng lần qua ngách phi đội Xương Khô. Khi chúng lách cách xông tới để chắn đường tôi, M lao ra trước mặt tôi, đập cả thân hình đồ sộ của anh vào hàng gần nhất, khiến chúng ngã nhào xuống thành một đống tay chân và xương sườn lẫn lộn. Một tiếng còi chói tai vô hình của chúng xé toạc không gian.

“Anh đang làm cái gì thế?” Julie thở hổn hển trong khi tôi đang kéo nàng theo. Tôi đang chạy còn nhanh hơn cả nàng nữa.

“Bảo vệ cô an …”

“Anh đừng có hòng nghĩ đến chuyện nói ‘bảo vệ cô an toàn’ nữa!” nàng hét “Đây là tình thế kém an toàn nhất mà tôi từng…”

Nàng hét lên khi một bàn tay không da túm chặt vai nàng. Sinh vật đó há hoác miệng để cắn ngập hàm răng nhọn vào cổ nàng, nhưng tôi túm lấy xương sống nó kéo giật ra. Tôi quăng nó xuống sàn bê tông, nhưng chẳng ích gì, những khúc xương không hề gãy ra. Tựa hồ bộ xương ấy đang trôi nổi thách thức lại trọng lực, ***g ngực của nó hầu như chưa chạm đất thì đã bật dậy và lao vào mặt tôi, chẳng khác nào một con côn trùng gớm guốc, không thể bị tiêu diệt.

“M!” tôi cố kêu lên khi nó bóp cổ tôi. “Cứu”

M cũng đang bận lôi những bộ xương ra khỏi tay, chân và lưng mình, nhưng nhờ vóc dáng to lớn, có vẻ anh có thể đọ lại được chúng. Trong khi tôi đang vật lộn không để những ngón tay của bộ xương nọ móc mắt mình thì M tiến đến, kéo bộ xương đó ra khỏi tôi và ném nó về phía 3 bộ xương khác đang định tấn công anh từ phía sau.

“Đi đi!” anh quát và đẩy tôi tới trước, rồi quay lại đối mặt với những kẻ đang đuổi theo chúng tôi. Tôi nắm tay Julie lao về phía đích đến của mình. Cuối cùng thì nàng cũng nhìn thấy nó. Chiếc Mercedes. “Ồ” nàng hổn hển. “Được rồi!”

Chúng tôi nhảy vào xe và tôi nổ máy. “Ôi Mercey…” Julie nói, vuốt ve bảng đồng hồ như vuốt thú cưng. “Thật vui vì lại được gặp mày.” Tôi vào số xe rồi thả tay côn cho chiếc xe phóng về phía trước. Không hiểu sao bây giờ tôi lại thấy thật dễ dàng.

M đã thôi không đánh nhau nữa và giờ chỉ lo chạy thoát thân, một đám đông những bộ xương đuổi theo sau. Hàng trăm Xác Sống đứng ngoài lối vào cổng Đi, im lặng theo dõi mọi việc. Họ đang nghĩ gì vậy? Liệu họ có đang nghĩ hay không? Liệu họ có thể phản ứng với việc đang diễn ra trước mắt học hay không? Với sự hỗn loạn bất ngờ nổ ra giữa cuộc sống đã được lập trình sẵn của họ?

M chạy sang bên kia phố, ngay trước đường thoát của chúng tôi, và tôi nhấn ga. M lao qua trước mũi xe, rồi đám xương khô lao qua trước mũi xe, thế rồi công trình kĩ thuật của Đức nặng gần hai nghìn cân lao thẳng vào thân xác khô giòn, cứng đanh của chúng. Chúng vỡ vụn. Các mẩu xương bay khắp nơi. Hai khúc xương đùi, ba bàn tay, và một nửa hộp sọ rơi vào trong xe, vẫn không ngừng rung lên và co giật, phát ra những tiếng khùng khục khô khốc cùng tiếng vo vo như của sâu bọ. Julie vứt chúng ra ngoài rồi cuống cuồng lau tay vào áo, vừa run rẩy vì ghê sợ vừa rên lên, “Ôi chúa ơi ôi chúa ơi”

Nhưng chúng tôi đã thoát. Julie đã thoát, chúng tôi rồ máy phóng qua cửa Đến, lao lên xa lộ, và tiến vào thế giới rộng lớn trong khi đám mây dông cuồn cuộn trên đầu. Tôi nhìn Julie. Nàng nhìn tôi. Cả hai chúng tôi cùng mỉm cười khi những giọt mưa đầu tiên rơi xuống.

MƯỜI PHÚT SAU, cơn dông mở màn bằng trận mưa sầm sập, và cả hai chúng tôi đều ướt sũng. Chiếc xe mui trần quả là lựa chọn tồi tệ trong một ngày như thế này. Chúng tôi không ai biết cách kéo mui xe lên, vì vậy đành lặng lẽ lái xe trong khi màn mưa xối xả đổ xuống đầu. Nhưng chúng tôi cũng không kêu ca. Chúng tôi cố tỏ ra lạc quan.

“Anh có biết mình đang đi đâu không?” khoảng hai mươi phút sau Julie hỏi. Tóc nàng đã dán chặt vào mặt.

“Có” tôi đáp, đưa mắt nhìn con đường ở phía chân trời xám sẫm.

“Anh có chắc không đấy? Vì tôi thì chịu thôi.”

“Rất …. chắc”

Tôi không muốn phải giải thích vì sao tôi rành rọt đường đi giữa thành phố và sân bay đến thế. Đó là đường đi săn của chúng tôi. Phải, nàng biết tôi là cái gì và tôi làm gì, nhưng tôi có nhắc cho nàng nhớ không? Chúng tôi có thể lái xe một cách thoải mái và quên đi một số chuyện được không? Trong trí tưởng tượng đầy nắng ấm của tôi thì chúng tôi không phải là một cô thiếu nữ và một Xác Sống lái xe trong cơn mưa. Chúng tôi là Frank và Ava đang du ngoạn trên những con đường thôn quê giữa hai hàng cây trong lúc một dàn giao hưởng cũ kỹ trên đĩa than êm ái đệm nhạc cho chúng tôi.

“Có lẽ chúng ta nên dừng lại hỏi đường.”

Tôi nhìn nàng. Tôi nhìn những khu nhà đổ nát quanh chúng tôi, gần như đen sì trong bóng chiều chạng vạng.

“Đùa thôi,” nàng nói, nhìn ra phía trước bằng đôi mắt khuất dưới những món tóc ướt dính bết. Nàng ngả người lên ghế và bắt tay ra sau đầu. “Khi nào anh cần nghỉ thì cho tôi biết nhé. Anh lái xe như bà lão ấy.”

Khi mưa đọng thành vũng dưới chân chúng tôi thì tôi nhận ra Julie hơi run. Đang là một đêm mùa xuân ấm áp, nhưng nàng đã ướt ráo cả, và gió từ xa lộ ào vào trong chiếc xe mui trần cũ này như một cơn lốc xoáy. Tôi rẽ xuống lối ra tiếp theo, và chúng tôi tiến vào một nhà ngoại ô lặng tờ như nghĩa địa. Julie nhìn tôi dò hỏi. Tôi có thể nghe thấy tiếng răng nàng đánh vào nhau lập cập.

Tôi lái xe chầm chậm dọc theo dãy nhà, tìm chỗ thích hợp để dừng lại qua đêm. Cuối cùng tôi rẽ vào một ngõ cụt đầy cỏ dại và đỗ xe cạnh một chiếc Plymouth Voyager đã gỉ. Tôi nắm tay Julie kéo nàng về phía ngôi nhà gần nhất. Cửa khóa, nhưng lớp gỗ mục chỉ cần đá một cái đã vỡ. Chúng tôi bước vào mái nhà nhỏ ấm cúng của một gia đình đã chết từ lâu. Trong nhà rải rác những chiếc đèn bão Coleman, và khi Julie thắp chúng lên, chúng phát ra ánh sáng lập lòe như ngọn lửa trại, dễ chịu đến lạ kì. Nàng đi lang thang quanh bếp và phòng khách, ngắm đồ chơi, bát đĩa, những chồng tạp chí cũ. Nàng nhặt một con gấu koala nhồi bông lên và nhìn vào mắt nó. “Mái nhà yêu dấu”, nàng lẩm bẩm.

Nàng lấy từ trong chiếc túi dết ra một cái máy ảnh chụp lấy ngay, hướng về phía tôi và chụp một pô. Ánh đèn chớp chói lòa trong căn phòng tối om làm tôi giật mình. Nàng cười trước vẻ mặt hốt hoảng của tôi và giơ cái máy ảnh lên. “Trông quen chứ? Sáng qua tôi đã lấy trộm nó từ phòng họp của mấy bộ xương kia đấy.” Nàng đưa cho tôi bức ảnh đang dần hiện lên. “Bảo quản kí ức là rất quan trọng, anh biết không? Nhất là bây giờ, khi mà thế giới đang dần đi đến ngày tàn.” Nàng ghé mắt vào ống ngắm và chầm chậm quay một vòng hết cả căn phòng. “Tất cả những gì anh đang thấy, đây có thể là lần cuối cùng anh được thấy chúng.”

Tôi vẩy vẩy bức ảnh trong tay. Một hình thù mờ ảo bắt đầu hiện ra. Là tôi, R, cái thây ma nghĩ rằng mình còn sống, đang nhìn lại tôi bằng cặp mắt mở to màu xám thiếc. Julie đưa cái máy ảnh cho tôi.

“Ta nên thường xuyên chụp ảnh, nếu không phải bằng máy ảnh thì là bằng trí não mình. Những kí ức ta cố tình giữ lại sẽ luôn rõ nét hơn những kí ức chỉ tình cờ thu lượm được.” Nàng tạo dáng và cười toét miệng. “Cười nào!”

Tôi chụp ảnh nàng. Khi bức ảnh ra khỏi máy nàng chìa tay định lấy, nhưng tôi rút nó ra giấu sau lưng. Tôi đưa cho nàng bức ảnh của tôi. Nàng đảo mắt. Nàng cầm lấy bức ảnh rồi nghiêng đầu ngắm nghía. “Da dẻ anh trông có vẻ khá hơn đấy. Chắc là mưa đã gột sạch anh đôi chút.”

Nàng hạ bức ảnh xuống và nheo mắt nhìn tôi một lát. “Tại sao mắt anh lại như thế?”

Tôi cảnh giác nhìn nàng. “Như… thế nào?”

“Cái màu xám là lạ ấy. Mắt thây ma không như thế. Mắt anh chẳng mờ đi hay gì cả. Tại sao lại thế?”

Tôi ngẫm nghĩ. “Không biết. Xảy ra… khi biến chuyển.”

Nàng nhìn tôi chăm chú đến mức tôi thấy lúng túng. “Trông sợ lắm,” nàng nói. “Gần như là … siêu nhiên ấy. Chúng có đổi màu không? Khi anh giết người chẳng hạn?”

Tôi cố không thở dài. “Tôi nghĩ… cô định nói… ma cà rồng.”

“À, phải, phải rồi.” Nàng bật cười và lắc đầu. “Ít nhất thì bọn chúng cũng chưa biến thành thật. Giờ có quá nhiều quỷ dữ phải nhớ rồi.”

Tôi chưa kịp thấy tự ái thì nàng đã ngước lên nhìn tôi và mỉm cười. “Dù sao thì… tôi cũng thích chúng. Mắt anh ấy. Thực ra là trông khá đẹp. Hơi sợ… nhưng đẹp.”

Có lẽ đó là lời khen tuyệt vời nhất tôi đã nhận được trong suốt cuộc đời làm Người Chết. Phớt lờ cái nhìn ngớ ngẩn của tôi, Julie lại lang thang đi khắp ngôi nhà, miệng lẩm nhẩm hát một mình.

Cơn bão vẫn gào rú bên ngoài, thỉnh thoảng lại có tiếng sấm nổ. Tôi lấy làm biết ơn là ngôi nhà của chúng tôi vẫn còn nguyên cửa sổ. Hầu hết những nhà khác đều đã bị bọn phá hoại hoặc Xác Sống đập hết cửa. Tôi đã thấy mấy tử thi bị mất óc trên thảm cỏ trước nhà hàng xóm, nhưng tôi muốn tin rằng chủ nhà của chúng tôi đã thoát mạng. Có thể họ đã đến được một sân vận động, hay thậm chí là một trong những thiên đường có tường thành bao kín ở vùng núi, nơi dàn đồng ca thiên thần hát vang sau cánh cổng titan gắn ngọc trai…

Tôi ngồi trong phòng khách nghe tiếng mưa rơi trong khi Julie đi lăng xăng quanh nhà. Một lát sau nàng quay lại với một ôm quần áo khô và ném lên sofa. Nàng giơ lên một cái quần bò rộng hơn người nàng đến mười cỡ. “Anh nghĩ sao?” nàng hỏi, quấn lưng quần quanh người. “Tôi mặc cái này trông có béo không?” Nàng ném cái quần xuống và lục lọi trong đống quần áo rồi lôi ra một mớ vải có lẽ là một cái váy. “Có lẽ tôi có thể dùng cái này làm lều nếu mình bị lạc trong rừng. Trời ạ, đám Xác Sống nào mà bắt được những người này thì đúng là vớ bở.”

Tôi lắc đầu và làm vẻ mặt buồn nôn.

“Sao, các anh không ăn người béo à?”

“Chất béo… không còn sống. Chất thải. Cần… thịt.”

Nàng cười. “Ồ, hóa ra anh vừa là người mê nhạc vừa là người sành ăn cơ đấy! Lạy chúa!” Nàng ném đống quần áo sang bên và thở hắt ra. “Thôi được. Tôi mệt lử rồi. Giường ở đây cũng không tệ lắm. Tôi đi ngủ đây.”

Tôi ngồi ngả ra trên chiếc sofa hẹp, chuẩn bị cho một đêm dài dài đơn độc với những suy nghĩ của mình. Nhưng Julie không đi. Nàng đứng ở cửa buồng ngủ và nhìn tôi một lúc lâu. Tôi đã từng nhìn thấy cái nhìn này rồi, và tôi lên tinh thần chuẩn bị cho điều sắp đến.

“R này…” nàng nói. “Anh có… cần phải ăn thịt người không?”

Tôi thầm thở dài, mệt mỏi vì những câu hỏi khó chịu này, nhưng một con quỷ thì có đáng được riêng tư bao giờ?

“Có.”

“Nếu không thì anh sẽ chết ư?”

“Phải.”

“Nhưng anh đã không ăn tôi.”

Tôi ngần ngừ.

“Anh đã cứu tôi. Tận ba lần liền.”

Tôi chậm rãi gật đầu.

“Và từ đó đến giờ anh chưa ăn ai cả, phải không?”

Tôi cau mày tập trung suy nghĩ, nhớ lại. Nàng nói đúng. Không kể mấy miếng óc còn thừa thì tôi đã nhịn ăn hoàn toàn từ khi gặp nàng.

Một nụ cười nửa miệng kì lạ hiện lên ở khóe miệng nàng. “Anh đang… thay đổi, phải không?”

Như mọi khi, tôi lại không biết nói gì.

“Thôi, chúc ngủ ngon,” nàng nói và đóng cửa phòng ngủ lại.

Tôi nằm trên ghế , ngước lên trần nhà gồ ghề nổi mốc vì thấm nước.

“Cậu làm sao vậy?” M hỏi tôi bên cốc cà phê mốc meo trong quán Starbucks ở sân bay. Cậu ổn chứ?”

“Ừ, tôi ổn. Chỉ đang thay đổi thôi.”

“Sao cậu có thể thay đổi được? Nếu tất cả chúng ta đều bắt đầu từ một tờ giấy trắng, thì sao cậu lại khác biệt?”

“Có lẽ chúng ta không phải là tờ giấy trắng. Có lẽ vết tích của cuộc sống cũ vẫn định hình cho chúng ta.”

“Nhưng chúng ta không còn nhớ cuộc sống đó nữa. Chúng ta không đọc được nhật kí của chính mình.”

“Chẳng quan trọng gì. Đây là bản chất của chúng ta, cho dù chúng ta có biến thành như thế này bằng cách nào đi chăng nữa. Điều quan trọng là chúng ta sẽ đi tiếp đến đâu.”

“Nhưng chúng ta có được lựa chọn không?”

“Tôi không biết.”

“Chúng ta là Người Chết. Chúng ta có được lựa chọn bất kì điều gì không”

“Có lẽ là có. Nếu mong muốn của chúng ta đủ mạnh.”

Tiếng mưa gõ trống trên mái nhà. Tiếng gỗ cót két. Cảm giác những chiếc đệm ghế gai gai đâm qua mấy cái lỗ trên áo tôi. Đang mải lục tìm trong kí ức sau cái chết của mình xem lần cuối tôi nhịn ăn lâu như thế này là bao giờ thì tôi nhận ra Julie đang đứng ở ngưỡng cửa. hai tay nàng khoanh trước ngực và nàng dựa hông vào khung cửa. Chân nàng nhịp nhịp trên sàn vẻ lo lắng.

“Gì thế?” tôi hỏi.

“Ờ…” nàng nói. “Tôi chỉ đang nghĩ thôi. Giường rất rộng. Vì vậy có lẽ, nếu anh muốn… Nếu anh muốn vào nằm cùng thì cũng không sao đâu.” Tôi hơi nhướng mày lên một chút. Mặt nàng đỏ bừng. “Nghe này, tôi chỉ muốn nói là – tất cả những gì tôi muốn nói – là tôi sẽ không phiền nếu phải cho anh mượn một bên giường. Những căn phòng này hơi ghê ghê, anh có thấy thế không? Tôi không muốn bị hồn ma của bà Sprat đè nát trong lúc ngủ đâu. Và vì đến cả tuần nay rồi tôi chưa tắm nên anh cũng không bốc mùi tệ hơn tôi đâu – có lẽ mùi của chúng ta sẽ lấn át lẫn nhau.” Nàng nhún một bên vai như muốn nói, sao cũng được, và biến vào phòng ngủ.

Tôi đợi một vài phút. Rồi, hết sức chần chừ, tôi ngồi dậy đi theo nàng vào phòng. Nàng đã nằm lên giường, cuộn tròn lại, chăn quấn chặt quanh mình. Tôi từ từ nằm xuống tít đầu bên kia giường. Chăn ở hết phía của nàng, nhưng chắc chắn tôi không cần giữ ấm. Thân nhiệt tôi lúc nào cũng bằng nhiệt độ phòng mà.

Bất chấp đống chăn lông dày xụ quấn quanh người, Julie vẫn đang run. “Chỗ quần áo này…” Nàng lầm bầm rồi ngồi dậy. “Chó chết,” Nàng liếc nhìn tôi. “Tôi sẽ bỏ quần áo ra cho khô. Cứ.. bình tĩnh nhé.” Quay lưng lại với tôi, nàng cựa người cởi cái quần ướt ra và kéo áo qua đầu. Da lưng nàng đã tái xanh vì lạnh. Gần như màu da của tôi vậy. Chỉ mặc chiếc áo ngực chấm bi và quần lót kẻ ca rô, nàng ra khỏi giường và trải quần áo lên tủ, rồi vội vàng chui trở lại đống chăn và cuộn tròn lại. “Chúc ngủ ngon.” Nàng nói.

Tôi nằm ngả ra, hai tay khoanh lại, mắt nhìn lên trần nhà. Chúng tôi đang nằm ở hai mép giường, cách nhau đến hơn một mét. Tôi có cảm giác rằng nàng cảnh giác đến thế không phải chỉ vì thể trạng sinh học của tôi. Sống hay Chết, sung sức hay bất lực, thì tôi vẫn có dáng vẻ của một gã đàn ông, và có lẽ nàng nghĩ tôi sẽ cư xử như bất kì thằng đàn ông nào khi nằm cạnh bên một cô gái đẹp. Có lẽ nàng nghĩ tôi sẽ chiếm đoạt thứ gì đó của nàng. Rằng tôi sẽ bò đến ăn tươi nuốt sống nàng. Nhưng nếu thế thì tại sao nàng lại cho tôi nằm cùng? Đây có phải là một phép thử không? Dành cho tôi, hay là cho chính nàng? Niềm hi vọng kì lạ nào đã khiến nàng đánh liều như vậy?

Tôi lắng nghe hơi thở của nàng chậm dần khi nàng ngủ thiếp đi. Sau mấy tiếng đồng hồ, khi nỗi sợ của nàng đã an toàn chìm vào trong giấc mơ, nàng quay sang bên, thu hẹp khoảng cách giữa chúng tôi. Giờ đây nàng đang đối mặt với tôi. Hơi thở dìu dịu của nàng thổi vào tai tôi nhồn nhột. Nếu thức giấc ngay bây giờ, liệu nàng có hét lên không? Liệu tôi có bao giờ thuyết phục được nàng rằng nàng an toàn đến mức nào không? Tôi không chối rằng khi nằm gần nàng như thế này, nhiều bản năng của tôi đã bị đánh thức, không chỉ là bản năng giết và ăn mà thôi. Nhưng cho dù những bản năng này có đó, mà nhiều cái mạnh mẽ đến không ngờ, điều tôi thực sự muốn chỉ là nằm cạnh nàng. Trong giây phút này, điều tôi mong nhất chỉ là được nàng ngả đầu lên ngực, thở ra một hơi dài ấm áp đầy thoải mái, và ngủ tiếp.

Có một điều kì lạ. một câu hỏi dành cho các triết gia Xác Sống. khi quá khứ của tôi chỉ là một màn sương còn hiện tại của tôi lại tràn ngập màu sắc và âm thanh, điều đó có nghĩa là gì? Kể từ khi trở thành Người Chết tôi đã thu thập các kí ức mới với sự trung thực của một cái máy thu âm cũ mèm, mờ nhạt, khó nghe, và hoàn toàn chẳng có gì đáng nhớ. Nhưng mấy ngày vừa rồi tôi lại có thể nhớ được từng chi tiết sống động, và ý nghĩ tôi sẽ bỏ mất một trong những chi tiết ấy khiến tôi kinh hoàng. Tôi có được sự tập trung này từ đâu? Sự rõ ràng này? Tôi có thể vạch một đường thẳng rõ mồm một từ giây phút tôi gặp Julie cho đến tận bây giờ, khi tôi nằm cạnh nàng trong căn buồng tang tóc này, và cho dù tôi đã để mất hay vứt bỏ hàng triệu khoảnh khắc trong quá khứ, tôi biết, một cách chắc chắn không bác bỏ được, rằng tôi sẽ nhớ giây phút này cho đến cuối đời.

Đến khoảng đầu giờ sáng, khi tôi đang nằm ngửa ra mà không cần được nghỉ ngơi thực sự, một giấc mơ chập chờn hiện lên sau mi mắt tôi như một cuộn phim. Nhưng nó không phải là một giấc mơ mà là một kí ức, một kí ức quá rõ ràng và sống động nên không thể nào là do bộ não vô hồn của tôi tạo ra được. Thường thường thì những kí ức cóp nhặt này luôn được mở đầu bằng mùi vị của máu và các nơ ron, nhưng đêm nay thì không. Đêm nay tôi chỉ nhắm mắt lại là nó đã diễn ra, một buổi chiếu phim lúc nửa đêm.

Chúng ta bắt đầu bằng cảnh một bữa tối. Một cái bàn kim loại dài trên bày một bữa ăn đơn giản. Một bát cơm. Một bát đậu. Những miếng bánh hạt lanh hình chữ nhật.

“Tạ ơn Chúa vì các thức ăn này,” người đàn ông ngồi đầu bàn nói, tay chắp trước mặt nhưng mắt vẫn mở to “Xin hãy phù hộ cho chúng nuôi sống cơ thể của chúng con. Amen.”

Julie huých tay gã trai đang ngồi cạnh nàng. Gã khẽ bóp đùi nàng dưới bàn. Gã trai ấy là Perry Kelvin. Tôi lại đang ở trong trí não của Perry. Tôi đã ăn hết óc của gã, sự sống của gã đã bốc hơi và bị hít hết… vậy mà gã vẫn còn đây. Liệu đây có phải là kí ức hóa học không? Chỉ là một chút óc của gã vẫn còn đang được tiêu hóa đâu đó trong cơ thể tôi? Hay đây chính là gã? Vẫn cố bám víu lấy ở đâu đó, bằng cách nào đó, vì một lí do nào đó?

“Perry này,” bố của Julie nói với gã – với tôi. “Julie nói với bác là cháu đang làm việc cho ban Nông nghiệp.”

Tôi nuốt miếng cơm xuống. “Vâng ạ, thưa Tướng Grigio, cháu là…”

“Đây không phải là phòng ăn tập thể, Perry ạ, đây là bữa tối gia đình. Cứ gọi ta là bác Girgio thôi.”

“Được rồi. Vâng ạ, thưa bác.”

Quanh bàn có bốn chiếc ghế. Bố Julie ngồi ở đầu bàn, còn tôi và nàng ngồi cạnh nhau ở bên phải ông. Chiếc ghế ở đầu bên kia bàn để trống. Julie chỉ nói thế này về mẹ nàng với tôi: “Mẹ đi năm em mười hai tuổi.” Và mặc dù tôi đã nhẹ nhàng gặng hỏi, nàng chưa bao giờ nói gì thêm, ngay cả khi hai chúng tôi đang mình trần nằm cạnh nhau trên chiếc giường đơn của tôi, mệt lử nhưng hạnh phúc và yếu đuối hơn bất kì ai trên đời.

“Giờ cháu đang là người trồng cây,” tôi nói với bố nàng, “nhưng cháu nghĩ là cháu sắp được thăng chức rồi ạ. Cháu đang định nhắm đến chức quản lí thu hoạch.”

“Ra thế,” ông nói, gật gù vẻ trầm tư. “Đó cũng là một việc không đến nỗi tồi… nhưng bác không hiểu sao cháu không cùng làm với bố cháu ở ban Xây dựng. Bác dám chắc ông ấy có thể dùng thêm nhiều người trẻ để làm việc ở dãy hành lang rất quan trọng đó.”

“Bố cũng đã hỏi cháu rồi, nhưng ờ… cháu không biết, cháu chỉ nghĩ giờ cháu làm ở Xây dựng thì không hợp lắm. Cháu thích làm việc với cây cỏ.’

“Cây cỏ,” ông nhắc lại.

“Cháu chỉ cảm thấy là trong lúc này thì việc trồng trọt có điều gì đấy rất ý nghĩa. Đất đã khô cằn quá nên không thể thu hoạch được gì nhiều, nhưng thật thích khi được thấy cây xanh mọc lên từ lớp đất xám xịt đấy.”

Ông Grigio ngừng nhai, mặt vô cảm. Julie có vẻ lúng túng. “Bó có nhớ bụi cây cảnh nhỏ mình đặt trong phòng khách hồi còn ở miền Đông không?” nàng hỏi. “Trông nó như một cái cây gầy nhẳng ấy?”

“Có…” bố nàng đáp. “Thì sao?’

“Bố yêu bụi cây ấy lắm mà. Bố đừng làm ra vẻ bố không hiểu chuyện vườn tược nữa.”

“Đó là cây của mẹ con.”

“Nhưng bố mới là người yêu nó.” Nàng quay sang tôi. “Bố em thực ra giỏi thiết kế nội thất lắm đấy, anh có tin được không, nhà cũ của gia đình em được bố bài trí cứ như là phòng trưng bày ở IKEA ấy, nhưng mẹ em thì không thể chịu được – mẹ muốn tất cả phải giản dị tự nhiên cơ, vải gai và đồ gỗ tái chế…”

Mặt ông Grigio đanh lại. Julie hoặc là không nhận ra hoặc là không để ý đến.

“… vì thế để chống lại bố, mẹ mua một bụi cây xanh um, đặt nó vào một cái chậu mây to tướng và để nó vào chính giữa phòng khách toàn màu trắng bạc tinh tươm của bố.”

“Đó không phải là cái phòng khách của bố, Julie,” ông xen vào. “Theo như bố nhớ thì chúng ta đã bầu chọn từng món đồ một, và con luôn về phe bố đấy chứ.”

“Hồi ấy con mới tám tuổi chứ mấy, bố, chắc là con thích giả sống trong một cái phi thuyền. Thế đấy, mẹ em đã mua cái cây đấy và bố mẹ cãi nhau vì nó đến cả tuần – bố nói trông nó thật ‘phi lý’, còn mẹ thì bảo là cái cây phải được ở lại không thì mẹ sẽ đi…” Nàng ngừng lại một lát. Mặt bố nàng càng rúm ró hơn. “Thế rồi, ờ, thế rồi bố mẹ cứ cãi nhau như thế một thời gian dài,” nàng nói tiếp, “Nhưng vì tính mẹ em nên chẳng mấy chốc mẹ đã chuyển sang quan tâm tới một thứ khác và quên không tưới nước cho cái cây nữa. Và khi nó bắt đầu héo thì thử đoán xem ai đã nhận nuôi cái cây tội nghiệp ấy nào?”

“Bố không muốn để một bụi cây chết làm điểm nhấn cho phòng khách nhà mình. Phải có ai chăm sóc nó chứ.”

“Ngày nào bố cũng tưới nước cho nó còn gì. Bố còn bón phân và tỉa cành cho nó nữa.”

“Phải, Julie ạ, vì như thế cây mới sống được.”

“Sao bố không thể thừa nhận là bố yêu cái cây ngu ngốc ấy hả bố?” Nàng nhìn ông với vẻ kinh ngạc pha lẫn bực dọc. “Con không hiểu đấy, như thế thì có gì sai trái đâu?”

“Bởi vì như thế thật ngớ ngẩn,” ông gắt, và không khí trong phòng thay đổi hẳn. “Con có thể tưới nước và tỉa cành cho một cái cây nhưng con không thể ‘yêu’ một cái cây được.”

Julie định mở miệng nói, rồi lại ngậm miệng vào.

“Nó chỉ là một vật trang trí vô bổ. Nó cứ nằm đó khiến ta tốn bao nhiêu thời gian và công sức, và một ngày kia nó tự dưng lăn ra chết, mặc cho ta tưới bao nhiêu nước. Thật ngớ ngẩn khi dành tình cảm cho một thứ vô nghĩa và ngắn ngủi như thế.”

Im lặng kéo dài suốt mấy giây đồng hồ, Julie rời mắt khỏi cái nhìn của bố nàng và khều khều bát cơm. “Dù sao thì,” nàng lí nhí, “em cũng chỉ định nói là, bố cũng từng làm vườn đấy, Perry ạ. Nên anh cứ nói về chuyện trồng trọt với bố đi.”

“Cháu còn thích nhiều thứ khác nữa về trồng trọt ạ,” tôi nói, cố thay đổi chủ đề cho nhanh.

“Thế à?” Ông Grigio hỏi.

“Vâng, ờ… xe máy ấy ạ? Cháu đã nhặt được một chiếc BMW R 1200 và đang tìm cách biến nó thành xe chống đạn, sẵn sàng cho chiến đấu, để phòng trước.”

“Thế tức là cháu có kinh nghiệm về máy móc. Tốt lắm. Ở trong kho Vũ khí chúng ta đang thiếu thợ cơ khí đấy.”

Julie đảo mắt và xúc đậu nhồi đầy miệng.

“Cháu cũng dành rất nhiều thời gian tập bắn súng. Cháu đã xin được giao thêm nhiệm vụ ngoài giờ học và cháu đã bắn khẩu M40 khá thành thạo rồi ạ.”

“Perry này,” Julie hỏi, “sao anh không cho bố biết các kế hoạch khác của anh ấy? Ví dụ như chuyện anh luôn muốn…”

Tôi giẫm lên chân nàng. Nàng trừng mắt nhìn tôi.

“Luôn muốn làm gì cơ?” bố nàng nói.

“Cháu không…cháu cũng chưa thực sự…” Tôi uống một ngụm nước. “Thực ra cháu cũng chưa biết chắc, thưa bác. Cháu chưa biết mình muốn làm gì. Nhưng cháu dám chắc là đến khi vào trung học thì cháu sẽ quyết định được.”

Cậu định nói gì? R tự hỏi, cắt ngang câu chuyện, và tôi thấy chao đảo khi chúng tôi đổi chỗ. Perry ngước lên nhìn y – nhìn tôi – và cau mày.

“Thôi đi, thây ma, đừng làm phiền ta lúc này. Đây là lần đầu tiên ta gặp bố của Julie và mọi chuyện chẳng ổn tí nào. Ta phải tập trung.”

“Mọi chuyện ổn mà,” Julie nói với Perry. “Dạo này bố em là thế, em đã bảo với anh từ trước rồi còn gì.”

“Mi cũng nên chú ý vào,” Perry bảo tôi. “Có khi mi cũng sẽ phải gặp ông ấy đấy, và mi sẽ phải khó khăn hơn ta nhiều thì mới được ông ấy ưa.”

Julie lùa tay qua tóc Perry. “Thôi nào cưng, đừng nói về thời hiện tại nữa. Em thấy lạc lõng quá.”

Gã thở dài. “Ừ, được rồi. Dù sao dạo này cũng tốt đẹp hơn. Khi lớn lên ta đã biến thành một ngôi sao neutron[1] thật sự đấy.

[1] Neutron: Sao được hình thành từ những gì còn lại khi một ngôi sao lớn tan rã, sau các vụ nổ siêu tân tinh

Tôi xin lỗi vì đã giết cậu, Perry. Tôi không muốn làm thế, chỉ vì…

“Quên đi thây mà, ta hiểu mà. Có vẻ như đến lúc ấy thì ta cũng muốn thoát rồi.’

“Em cá là em sẽ luôn nhớ anh khi em nhớ lại những ngày này,” Julie nói vẻ tiếc nuối. “Anh đã rất tuyệt trước khi bố tóm được anh.”

“Chăm sóc cho cô ấy nhé?” Perry thì thầm với tôi. “Cô ấy đã phải chịu đựng rất nhiều. Hãy bảo vệ cô ấy.”

Tôi hứa.

Ông Grigio hắng giọng. “Nếu là cháu thì bác sẽ lên kế hoạch ngay từ bây giờ, Perry ạ. Với kĩ năng của cháu, cháu thực sự nên nghĩ tới việc huấn luyện với ban An ninh. Mầm xanh mọc từ đất lên thì cũng hay đấy nhưng nói cho đúng ra chúng ta không cần các thứ rau quả đó. Con người có thể sống hoàn toàn nhờ vào Carbtein suốt một năm thì các tế bào mới bắt đầu có dấu hiệu mệt mỏi. Việc quan trọng nhất là giữ cho chúng ta sống sót, và đó là việc chúng ta làm ở ban An ninh.”

Julie kéo tay Perry. “Thôi nào, mình có phải nghe cái này một lần nữa không?”

“Ừ thôi,” Perry nói. “Kí ức này không đáng để nhớ lại. Mình đi đâu khác vui hơn đi.”

Chúng tôi đang ngồi ở bãi biển. Không phải một bãi biển thật, được đẽo gọt nên sau bao nhiêu thiên niên kỉ bởi bàn tay lão luyện của đại dương – những bãi biển đó giờ đã chìm dưới nước cá rồi. Chúng tôi đang ngồi trên bãi biển mới ở một thành phố cảng vừa bị ngập. Những vạt cát nhỏ nằm đây đó giữa những miếng gạch lát vỉa hè vỡ. những cây đèn đường bám đầy hà nhô lên từ các ngọn sóng, có mấy cây vẫn lập lòe sáng trong ánh chiều chạng vạng, tỏa quầng sáng da cam lên mặt nước.

“Được rồi các cậu,” Julie nói, ném một cây gậy xuống nước. “Đến giờ kiểm tra rồi. Các cậu muốn làm gì với đời mình nào?”

“A, chào bác Grigio,” tôi lầm bầm trong khi ngồi cạnh Julie trên một khúc củi dạt đã từng là một cây cột điện thoại.

Nàng lờ tôi đi. “Nora, cậu trước. Và tớ không muốn nói cậu nghĩ mình sẽ làm gì, ý tớ là cậu muốn làm gì cơ.”

Nora đang ngồi trên cát trước khúc củi, nghịch mấy viên sỏi, trong ngón tay giữa và ngón đeo nhẫn chỉ còn một đốt của cô có kẹp một điếu cần sa đang bốc khói. Mắt cô có màu nâu đất, da cô màu cà phê sữa. “Chắc là làm y tá?” cô nói. “Chữa bệnh cho mọi người, cứu sống họ… có lẽ là tìm ra một thứ thuốc chữa? Tớ sẽ thích việc đó.”

“Y tá Nora,” Julie mỉm cười nói. “Nghe như tên chương trình truyền hình cho thiếu nhi ấy.”

“Sao lại là y tá?” tôi hỏi, “sao cậu không muốn làm bác sĩ luôn?”

Nora phì một tiếng. “Ờ, phải rồi, để phải học bảy năm đại học ấy à? Tớ còn không chắc là văn minh nhân loại tồn tại lâu đến thế.”

“Có chứ,” Julie nói. “Đừng nói như thế. Nhưng làm y tá cũng chẳng có gì sai cả. Y tá rất gợi cảm mà!”

Nora cười và lơ đãng nghịch nghịch một lọn tóc đen quăn tít. Cô nhìn tôi. “Sao lại là bác sĩ hả Pear? Đấy là mục tiêu của cậu à?”

Tôi lắc mạnh đầu. “Tớ đã thấy máu và nội tạng đủ cho cả một đời rồi, xin cảm ơn.”

“Thế thì cậu định làm gì?”

“Tớ thích viết lách,” tôi nói như thú nhận. “Vì thế… tớ đoán là tớ muốn thành nhà văn.”

Julie mỉm cười. Nora nghiêng đầu. “Thật ư? Mọi người có còn làm thế nữa không?”

“Cái gì? Viết lách á?”

“Ý tớ là có còn một… nền công nghiệp sách báo nữa không?”

Tôi nhún vai. “Ờ,… không. Không hẳn. Cậu nói có lý Nora ạ.”

“Tớ chỉ định…”

“Không, tớ biết, nhưng cậu nói đúng, cho dù chỉ là mơ mộng thôi thì cũng thật ngốc. Đại tá Rosso nói chỉ còn khoảng ba mươi phần trăm thành phố trên thế giới là còn hoạt động thôi, nên trừ khi đám Xác Sống đang học đọc… thì bây giờ không phải lúc để đặt chân vào ngành văn học. Chắc là tớ sẽ làm ở ban An ninh thôi.”

“Câm mồm ngay, Perry,” Julie nói, đấm vào vai tôi một cái. “Mọi người vẫn đọc sách chứ?”

“Thật à?” Nora hỏi.

“Ít nhất thì tớ có đọc. Ai cần biết là có còn nền công nghiệp gì gì không. Nếu tất cả mọi người đều quá bận xây dựng và bắn phá, không còn nghĩ đến chuyện nuôi sống tâm hồn mình nữa thì kệ xác họ. Anh cứ viết lên giấy nháp rồi đưa cho em cũng được. Em sẽ đọc.”

“Cả một cuốn sách chỉ để cho một người đọc,” Nora nhìn tôi nói. “Như thế có đáng không chứ?”

Julie trả lời thay tôi. “Ít nhất thì suy nghĩ của anh ấy cũng sẽ được bày tỏ, phải không nào? Ít nhất thì sẽ có ai đó đọc chúng. Tớ nghĩ như thế sẽ rất tuyệt. Sẽ giống như được cầm một mẩu não của anh ấy trong tay vậy.” Nàng chăm chú nhìn tôi. “Cho em một mẩu não của anh nào, Pery, em muốn nếm thử.”

“Ôi trời,” Nora phá lên cười. “Tớ có cần để các cậu lại một mình không?”

Tôi vòng tay quanh Julie và nở một nụ cười chán đời mà dạo này tôi đã thành thục. “Ôi cô bé của anh,” tôi nói và siết chặt nàng. Nàng cau mày.

“Thế cậu thì sao, Jules?” Nora hỏi. “Giấc mơ viển vông của cậu là gì?”

“Tớ muốn làm cô giáo.” Nàng hít một hơi dài. “Và họa sĩ, ca sĩ, nhà thơ. Và phi công. Và…”

Nora cười, tôi thầm đảo mắt. Nora chuyển điếu cần sang cho Julie, nàng rít một hơi ngắn rồi đưa nó cho tôi. Tôi lắc đầu, biết rõ thiệt hơn. Chúng tôi cùng nhìn ra mặt nước lấp lánh sáng, ba đứa nhóc cùng ngồi trên một khúc củi và ngắm mặt trời lặn, nhưng lại có những suy nghĩ vô cùng khác nhau.

Em sẽ làm được tất cả những việc đó, R thì thầm với Julie, và chúng tôi lại đổi chỗ. Julie ngước lên nhìn tôi, nhìn thây ma giữa những đám mây, bồng bềnh trên mặt biển như một linh hồn vô định. Nàng tặng cho tôi một nụ cười rạng rỡ, và tôi biết đó không thật là nàng, tôi biết không điều gì tôi nói ở đây có thể thoát ra khỏi ranh giới hộp sọ của tôi, nhưng tôi vẫn nói. Em sẽ trở nên cao lớn, mạnh mẽ, tuyệt vời, và em sẽ sống mãi. Em sẽ thay đổi cả thế giới.

“Cảm ơn, R” nàng nói. “Anh thật tốt. Anh nghĩ khi đến lúc thì anh có thể để tôi đi không? Anh nghĩ mình có thể nói lời từ biệt không?”

Tôi nuốt nước bọt. Tôi có phải làm thế không?

Julie nhún vai, mỉm cười đầy ngây thơ, và thì thầm, “Nhún vai.”

Sáng hôm sau cơn bão tan. Tôi đang nằm ngửa trên giường bên cạnh Julie. Một tia nắng chói chang xuyên qua làn bụi trong không khí và gom lại thành một quầng nóng trắng trên dáng người co quắp của nàng. Nàng vẫn đang quấn chặt chiếc chăn. Tôi ngồi dậy đi ra hiên trước. Mặt trời mùa xuân làm cả khu phố bạc trắng, và âm thanh duy nhất là tiếng kẽo kẹt trong gió của dây xích đu rỉ sét ở sân sau. Câu hỏi lạ lùng trong giấc mơ vẫn vang vọng trong đầu tôi. Tôi không muốn phải đối mặt với nó, nhưng tôi nhận ra chẳng mấy chốc việc này sẽ đi đến hồi kết. Đến chín giờ tôi sẽ đưa nàng về hiên nhà bố nàng, và tất cả sẽ qua. Cánh cổng sẽ đóng sầm lại, và tôi sẽ lầm lũi ra về. Liệu tôi có thể để nàng đi không? Tôi chưa từng hỏi câu nào hóc búa hơn. Một tháng trước trên Trái đất này chưa có gì khiến tôi nhớ nhung, thích thú hay thèm muốn. Tôi biết mình có thể mất tất cả mà chẳng có chút cảm xúc gì, và tôi dễ dàng chấp nhận điều đó. Nhưng tôi đã mệt mỏi với những điều dễ dàng rồi.

Khi tôi quay trở vào trong, Julie đang ngồi trên mép giường. Nàng có vẻ chuệnh choạng, vẫn còn nửa thức nửa ngủ. Tóc nàng đúng là một thảm họa tự nhiên, y như những cây cọ sau trận gió lốc.

“Chào buổi sáng,” tôi nói.

Nàng rên lên. Tôi cố hết sức để không nhìn nàng trong khi nàng ưỡn lưng, vươn vai, và chỉnh lại dây áo ngực rồi khẽ rên lên một tiếng. Tôi có thể thấy rõ từng cơ bắp và đốt sống trên người nàng, và vì nàng đã không mặc gì rồi nên tôi tưởng tượng ra nàng không có cả da nữa. Từ các kinh nghiệm khủng khiếp của mình tôi biết những tầng lớp bên trong cơ thể nàng cũng rất đẹp. Những kì công điêu khắc cân xứng dược giấu kín trong nàng như những chi tiết nạm ngọc của một cái đồng hồ, những tác phảm nghệ thuật không ai được nhìn thấy.

“Chúng ta định kiếm đồ ăn sáng ở đâu bây giờ?” nàng lầm bầm. “Tôi đói meo rồi.”

Tôi ngần ngừ. “Có thể… đến được… Sân vận động… trong một tiếng. Nhưng… sẽ cần xăng. Cho Mercey.”

Nàng dụi mắt. Nàng bắt đầu mặc lại bộ quần áo vẫn còn ẩm. Một lần nữa tôi lại cố không nhìn chằm chằm. Cơ thể nàng uốn lượn và đàn hồi khác hẳn da thịt của Người Chết.

Đột nhiên mắt nàng lộ vẻ lo lắng. “Chết tiệt. Anh biết không? Tôi phải gọi điện cho bố tôi.”

Nàng nhấc điện thoại bàn lên, và tôi ngạc nhiên khi nghe thấy có tiếng bip bip. Chắc hẳn đồng loại của nàng rất chú trọng giữ cho đường dây điện thoại hoạt động. Tất cả những thứ phụ thuộc vào điện tử hoặc vệ tinh có lẽ đã hỏng từ lâu, nhưng những kết nối thực, những đường dây ngầm chạy dưới đất, chúng có thể tồn tại được một thời gian nữa.

Julie quay số. Nàng căng thẳng chờ đợi. Rồi vẻ nhẹ nhõm tràn ngập khuôn mặt nàng. “Bố, con Julie đây.”

Ở đầu kia điện thoại tuôn ra một tràng quát tháo. Julie để ống nghe ra xa tai và nhìn tôi như muốn nói. Bắt đầu rồi đây. “Vâng, bố, con không sao, con ổn cả, còn sống và nguyên vẹn. Nora đã kể cho bố nghe chuyện xảy ra rồi chứ ạ?” Từ đầu kia lại có thêm nhiều tiếng quát tháo nữa. “Vâng, con biết bố sẽ đi tìm, nhưng bố tìm sai chỗ rồi. Là cái tổ nhỏ ở sân bay Oran cơ. Chúng nhốt con vào một căn phòng toàn người chết, như là phòng chứa thức ăn ấy, nhưng sau vài ngày thì… con đoán chúng đã quên mất con. Con đi thẳng ra, phá khóa một cái xe và lái đi. Giờ con đang trên đường về rồi, con chỉ dừng lại để gọi điện cho bố thôi.” Ngừng một lát. Nàng liếc nhìn tôi. “Không, ờ, bố đừng cử ai đến nhé. Con đang ở phía ngoại ô phía Nam, con đã gần…” Nàng đợi. “Con không biết, đâu đó gần xa lộ, nhưng bố…” Nàng gồng người lên và đổi sắc mặt. “Cái gì?” Nàng hít một hơi. “Bố, tại sao bố lại nói về mẹ lúc này? Không, tại sao bố lại nhắc đến mẹ, chuyện này không giống thế một tí nào. Con đang trên đường về rồi, con chỉ… Bố! Đợi đã, bố nghe con đi được không? Đừng cử ai đến cả, con đang về đây, được chứ? Con có xe, con đang trên đường về, chỉ… Bố!” Từ đầu bên kia chỉ còn sự im lặng. “Bố?” Im lặng. Nàng cắn môi nhìn xuống sàn. Rồi nàng cúp máy.

Tôi nhướng mày lên. Trong lòng tràn ngập những câu hỏi mà tôi không dám thốt lên thành lời.

Nàng xoa xoa trán rồi chầm chậm thở ra. “R này, anh đi tìm xăng một mình được không? Tôi cần… suy nghĩ một chút.” Nàng không hề nhìn tôi. Tôi rụt rè chìa tay ra đặt lên vai nàng. Nàng hơi giật mình, rồi dịu lại, rồi đột nhiên quay lại ôm ghì lấy tôi, vùi mặt vào áo tôi.

“Tôi chỉ cần một phút thôi,” nàng nói, buông tôi ra và bình tĩnh lại.

Thế là tôi để nàng lại. Tôi tìm thấy một can xăng rỗng trong gara và đi xung quanh phố, tìm một chiếc xe còn đầy bình xăng để hút. Khi đang quỳ bên một chiếc Chevy Tahoe bẹp rúm với ống dẫn xăng đang kêu xòng xọc trong tay, tôi chợt nghe thấy tiếng động cơ nổ ở đâu đó đằng xa. Tôi lờ nó đi. Tôi tập trung vào vị xăng cay gắt trong miệng. Khi can đã đầy, tôi quay về chỗ ngõ cụt, nhắm mắt lại và để cho mặt trời chiết qua mi mắt. Rồi tôi mở mắt ra và cứ đứng đó hồi lâu, tay cầm cái can nhựa đỏ như một món quà sinh nhật muộn. Chiếc Mercedes đã biến mất.

Trong nhà, trên bàn ăn, tôi tìm thấy một mẩu giấy nhắn. Trên giấy viết gì đó, những chữ cái mà tôi không ghép lại được thành từ, nhưng cạnh đó là hai bức ảnh lấy ngay. Cả hai đều là ảnh Julie, do Julie chụp, với chiếc máy ảnh giơ ra xa hết cỡ và quay về phía nàng. Trong một bức ảnh nàng đang vẫy tay. Cử chỉ ấy có vẻ ỉu xìu, miễn cưỡng. Trong bức ảnh kia nàng đang dặt tay trên ngực. Mặt nàng vẫn bình thản, nhưng mắt nàng ươn ướt.

Tạm biệt, R, bức ảnh thì thầm với tôi. Đã đến lúc rồi. Đã đến lúc nói lời chia tay. Anh có thể nói lời chia tay không?

Tôi giơ bức ảnh ra trước mặt, ngắm nhìn chăm chú. Tôi xoa tay lên bề mặt ảnh, làm những màu sắc mới hiện ra nhòe đi thành một vệt mờ màu cầu vồng. Tôi đã định đem nó theo, nhưng không. Tôi chưa sẵn sàng biến Julie thành một kỉ vật.

Nói đi, R. Cứ nói đi.

Tôi đặt trả bức ảnh trên bàn và rời khỏi ngôi nhà đó. Tôi không nói gì.

Tôi đi bộ về sân bay. Tôi không biết điều gì đang đợi tôi ở đó. Cái chết hoàn toàn ư? Có thể lắm. Sau những lộn xộn tôi gây ra, đám Xương Khô có thể sẽ loại trừ tôi như một thứ rác rưởi truyền bệnh. Nhưng một lần nữa tôi lại chỉ còn có một mình. Thế giới của tôi nhỏ hẹp, lựa chọn của tôi không nhiều. Tôi không biết phải đi đâu nữa.

Chuyến đi bốn mươi phút bằng ô tô sẽ là một chặng đường dài mất cả ngày khi đi bộ. Trong khi tôi bước đi, gió hình như đã đổi chiều, và cơn dông hôm qua lại hiện lên ở đường chân trời chuẩn bị cho một màn tái diễn. Mưa cuồn cuộn trên đầu tôi, từ từ thu hẹp khoảng trời xanh lại như một ống kính máy ảnh khổng lồ. Tôi đi nhanh, bước chân cứng nhắc, gần như là hành quân vậy.

Mẩu trời xanh bé xíu trên đầu tôi tối lại thành màu xám, rồi màu chàm, rồi mây cuối cùng cũng đóng kín nó lại. Mưa trút xuống. Mưa ào ào từng đợt xối xả khiến cho cơn mưa tối hôm qua chỉ như một luồng hơi nước nhẹ phun ra ở quầy hoa quả. Tôi hết sức bối rối khi bỗng cảm thấy mình đang lạnh. Khi nước tràn qua quần áo tôi ngấm vào từng lỗ chân lông, tôi thậm chí còn rùng mình nữa. Và mặc dù gần đây ngủ nhiều đến ghê gớm, giờ tôi lại thấy buồn ngủ. Tôi đã như thế ba đêm liền rồi.

Tôi rời khỏi xa lộ ở lối ra tiếp theo và trèo lên một bồn tiểu cảnh hình tam giác đang nằm giữa con đường và bờ dốc dẫn xuống lối ra. Tôi lao qua các bụi cây thấp chui vào giữa đám cây cao, một khu rừng nhỏ gồm khoảng mười hoặc mười hai cây tuyết tùng trồng theo một thiết kế đẹp mắt để giúp hồn ma những người đi đường bớt căng thẳng.

Tôi cuộn tròn lại dưới gốc một cái cây, những cành gầy guộc của nó cũng giúp che chắn cho tôi phần nào, rồi nhắm mắt lại. Khi chớp lóe lên ở đường chân trời như đèn nháy và sấm rền vang tới tận từng khúc xương của tôi, tôi chìm vào bóng tối.

Tôi đang ngồi với Julie trên chiếc 747. Tôi nhận ra đây là một giấc mơ. Một giấc mơ đích thực, chứ không phải buổi chiếu lại cuộc sống đã được ghi hình của Perry Kelvin. Đây hoàn toàn là do tôi. Hình ảnh đã rõ ràng hơn những vệt mờ nhạt não tôi cố tạo ra trong giấc mơ đầu tiên ở sân bay, nhưng mọi thứ vẫn có vẻ run run, gượng gạo, giống như video nghiệp dư so với bộ phim chuyên nghiệp bóng bẩy của Perry.

Julie và tôi ngồi xếp bằng, đối mặt với nhau, lơ lửng trên những đám mây bao phủ cánh máy bay trắng muốt. Gió lùa qua tóc chúng tôi, nhưng không mạnh hơn so với một cuộc dạo chơi thư thái trên chiếc xe mui trần.

“Giờ anh lại còn mơ được cơ à?” Julie hỏi.

Tôi rụt rè mỉm cười. “Chắc vậy.”

Julie không cười. Mắt nàng lạnh băng. “Chắc là anh không có gì để mơ cho đến khi gặp chuyện gái gú. Anh giống như một chú học sinh trung học phổ thông đang cố viết nhật kí vậy.”

Giờ chúng tôi lại đang ở dưới mặt đất, ngồi trên một bãi cỏ xanh ngập nắng ở một khu ngoại ô. Một cặp vợ chồng béo phì khủng khiếp đang nướng tay chân người ở phía sau. Tôi cố tập trung nhìn vào Julie.

“Tôi đang thay đổi.”

“Tôi không quan tâm,” nàng đáp. “Giờ tôi đã về đến nhà. Tôi đã quay lại với thế giới thực, nơi anh không tồn tại. Trại hè đã kết thúc rồi.”

Một chiếc Mercedes có cánh bay qua bầu trời đằng xa và biến mất với một tiếng nổ siêu âm trầm trầm.

“Tôi đã đi rồi,” nàng nói, nhìn thẳng vào mắt tôi. ‘Chúng ta đã rất vui, nhưng chuyện đó qua rồi. Mọi việc phải như vậy.”

Tôi lắc đầu, tránh nhìn vào mắt nàng. “Tôi chưa sẵn sàng.”

“Anh nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra chứ?’

“Tôi không biết. Tôi chỉ hi vọng sẽ có một điều gì đó. Một phép màu.”

“Làm gì có phép màu. Mọi chuyện đều phải có nguyên nhân và hệ quả, mơ mộng và thực tế, Người Sống và Người Chết. Hy vọng của anh thật nực cười. Tính lãng mạn của anh thật đáng xấu hổ.”

Tôi lo lắng nhìn nàng.

“Đã đến lúc anh trưởng thành rồi đấy. Julie đã quay về chỗ của mình, và anh cũng phải quay về chỗ của anh, mọi chuyện phải là như thế. Đã luôn như thế. Sẽ luôn như thế.”

Nàng cười, để lộ hàm răng nhọn hoắt vàng khè. Nàng hôn tôi, nhai nát môi tôi, cắn gãy răng tôi, và nhá đến tận óc tôi trong lúc gào thét như một đứa trẻ đang hấp hối. Tôi sặc sụa trong dòng máu nóng đỏ của chính mình.

Tôi mở choàng mắt và bật dậy, đẩy những cành cây sũng nước ra khỏi mặt. Trời vẫn còn tối. Mưa vẫn nện rầm rầm xuống đất. Tôi rời khỏi lụm cây và trèo lên cây cầu bắc qua đường. Tôi dựa vào lan can cầu, nhìn ra xa lộ trống trơn và đường chân trời tối thẳm phía xa. Một ý nghĩ duy nhất đập thình thịch trong đầu tôi như một cơn đau đầu đầy giận dữ: Các người đã sai rồi. Bọn quỷ dữ khốn kiếp các người đã sai rồi. Về tất cả mọi thứ.

Qua khóe mắt, tôi thấy một dáng người ở đầu bên kia cây cầu. Dáng người đen sẫm ấy tiến về phía tôi bằng những bước đều đặn nhưng ì ạch. Tôi co người lại, chuẩn bị chiến đấu. Sau khi lang thang quá lâu một mình, những Người Chết đơn độc thường không biết phân biệt giữa đồng loại với Người Sống nữa. Và nhiều người đã quá sa đọa, quá quen với cuộc sống kiểu này, đến nỗi họ không còn quan tâm gì nữa. Họ sẽ ăn bất kì ai, bất kì thứ gì, ở bất kì đâu, bởi vì họ không còn biết cách nào khác để giao tiếp. Tôi tưởng tượng ra một trong những sinh vật ấy nhảy xổ vào Julie khi nàng dừng chiếc Mercedes lại để dò đường, bóp những bàn tay bẩn thỉu quanh mặt nàng và cắn vào cái cổ mảnh dẻ của nàng, và khi hình ảnh ấy bắt rễ trong đầu tôi, tôi đã sẵn sàng xé vật trước mặt mình thành từng mảnh không còn hình thù gì nữa. Cơn giận nguyên sơ đáng sợ tràn nhập trong lòng tôi mỗi khi tôi nghĩ đến chuyện có ai làm hại nàng. Sự tàn bạo của giết và ăn thịt người chẳng khác gì lời trêu chọc hồn hậu so với cơn khát máu chi phối toàn bộ bản thân tôi này.

Dáng người to kềnh nọ lảo đảo đến gần tôi hơn. Một tia chớp chiếu vào mặt hắn, và tôi buông tay xuống.

“M?”

Mới đầu tôi suýt không nhận ra anh. Mặt anh đã bị cào xé, và trên người anh là vô số vết cắn.

“Chào,” anh gầm gừ. Mưa tuôn xuống mặt anh và đọng lại trong các vết thương của anh. “Đi… tránh… mưa.” Anh đi qua bụi cây nước nhỏ tong tong của tôi và trèo theo đường dốc xuống xa lộ bên dưới. Tôi theo anh đi xuống khoảng đường khô bên dưới cây cầu. Chúng tôi ngồi co ro trên mặt đất, xung quanh đầy lon bia và kim tiêm cũ.

“Làm gì… ở … ở… tận đây?” tôi hỏi anh, loay hoay tìm từ. Tôi chỉ mới im lặng chưa đầy một ngày mà đã han gỉ thế này đây.

“Đoán xem,” M nói, chỉ vào các vết thương của mình. “Xương Khô. Đuổi tôi đi.”

“Xin lỗi.”

M hầm hè. “Kệ… mẹ nó.” Anh đá một lon bia đã bạc phếch vì nắng. “Nhưng đoán… xem” Một cái gì đó như nụ cười làm khuôn mặt tan nát của anh bừng sáng lên. “Vài người… đi cùng tôi.”

Anh chỉ xuống xa lộ, và tôi thấy tám chín người nữa chậm rãi đi về phía chúng tôi.

Tôi bối rối nhìn M. “Đi… cùng? Tại sao?”

Anh nhún vai. “Mọi chuyện ở nhà… điên lắm. Việc thường ngày… đảo lộn.” Anh chỉ một ngón tay vào tôi. “Cậu.”

“Tôi?”

“Cậu và… cô ấy. Có gì đó… trong không trung. Chuyển động.”

Chín Xác Sống kia dừng lại dưới chân cầu và đứng đó, nhìn chúng tôi trân trối.

“Chào,” tôi nói.

Họ lảo đảo và khẽ rên lên. Một người gật đầu.

“Cô gái đâu?” M hỏi.

“Tên cô ấy là Julie.” Câu ấy tuôn ra khỏi miệng tôi một cách trơn tru, như một hơi trà hoa cúc ấm nóng.

“Ju…lie,” M khó nhọc nhắc lại. “Được. Cô ấy… đâu?”

“Đi rồi. Về nhà.”

M nhìn mặt tôi. Anh đặt tay lên vai tôi. “Cậu… ổn chứ?”

Tôi nhắm mắt lại và chầm chậm hít một hơi. “Không.” Tôi nhìn ra xa lộ, nhìn về phía thành phố. Và có điều gì đó nảy ra trong đầu tôi. Mới đầu nó chỉ là một cảm giác, rồi thành một ý nghĩ, và cuối cùng là một lựa chọn. “Tôi sẽ đi theo cô ấy.”

Sáu âm tiết. Tôi lại vừa phá vỡ kỉ lục rồi.

“Đến… Sân vận động?”

Tôi gật đầu.

“Vì sao?”

“Để… cứu cô ấy.”

“Khỏi… cái gì?”

“Tất cả… mọi thứ.”

M nhìn tôi một lúc lâu. Giữa Người Chết với nhau, một cái nhìn sâu thẳm có thể kéo dài đến hàng phút. Tôi tự hỏi liệu anh có hiểu điều tôi vừa nói hay không, ngay cả khi chính tôi cũng không hiểu. Đó chỉ là linh cảm mà thôi. Một phôi thai hãy còn đỏ hỏn của một kế hoạch.

Anh ngước lên nhìn bầu trời, và mắt anh bỗng có vẻ xa xăm. “Tối qua… tôi… mơ. Mơ thật sự. Kí ức.”

Tôi trố mắt nhìn anh.

“Nhớ lại… hồi còn bé. Mùa hè. Cháo… lúa mì. Một cô gái.” Anh nhìn tôi. “Nó.. như thế nào?”

“Cái gì?”

“Cậu đã… cảm thấy. Cậu biết… nó là gì không?”

“Anh… nói gì thế?”

“Giấc mơ của tôi,” anh nói, mặt đầy kinh ngạc như một đứa trẻ đứng trước kính viễn vọng. “Những thứ ấy… là tình yêu à?”

Một thoáng rùng mình chạy dọc xương sống tôi. Chuyện gì đang xảy ra vậy? Hành tinh của chúng ta đang lao về góc xa xôi nào của vũ trụ vậy? M đang nằm mơ, đang nhớ lại những kí ức cũ, hỏi những câu hỏi lạ lùng. Mỗi ngày tôi lại nói thêm được nhiều hơn. Chín Người Chết vô danh đang đứng với chúng tôi dưới cây cầu này, cách xa sân bay và tiếng rít điều khiển của những bộ xương đến hàng dặm, đứng đây chờ đợi… điều gì đó.

Một tờ giấy mới đang trải ra trước mặt chúng tôi. Chúng tôi sẽ vẽ gì lên đó? Chọn màu gì cho cái màu xám xịt trống trải này?

“Tôi sẽ… đi cùng.” M nói. “Giúp cậu vào đó, cứu cô ấy.” Anh quay lại nhìn những Người Chết đang chờ đợi. “Giúp chúng tôi nhé?” Anh hỏi, giọng không cao hơn chút nào so với tiếng trầm trầm bình thản thường ngày. “Giúp cứu… cô gái? Cứu…” Anh nhắm nghiền mắt để tập trung. “Ju…lie?”

Những Người Chết linh hoạt hẳn lên khi nghe thấy cái tên ấy, ngón tay động đậy, mắt nhìn láo liên. M có vẻ hài lòng. “Giúp tìm… thứ bị mất?” Anh hỏi với giọng rắn rỏi mà tôi chưa từng nghe được từ cổ họng rách toạc của anh. “Giúp… khai quật?”

Các Xác Sống nhìn M. Họ nhìn tôi. Họ nhìn nhau. Một người nhún vai. Một người gật đầu. “Giúp,” một người rên lên, và tất cả cùng khò khè lên tiếng đồng tình.

Tôi nhận ra một cười toe toét đang nở ra trên mặt mình. Tôi không biết mình đang làm gì, hay chuyện gì sẽ xảy ra khi chuyện đó hoàn thành, nhưng ở bậc cuối của chiếc thang vượt thành này, ít nhất thì tôi cũng biết tôi sẽ được gặp lại Julie. Tôi biết tôi sẽ không nói lời tạm biệt. Và nếu những người tị nạn đứng không vững này muốn giúp, nếu họ nghĩ họ đã thấy được điều gì đó quan trọng hơn là một chàng trai chạy theo một cô gái, thì họ có thể giúp, rồi chúng tôi sẽ biết chuyện gì xảy ra nếu chúng tôi nói Có trong khi thế giới cứng đờ như xác chết lại hét lên Không.

Chúng tôi bắt dầu loạng choạng tiến về hướng Bắc trên xa lộ chạy về phía Nam, và cơn dông lùi dần về phía rặng núi như thể sợ chúng tôi.

Chúng tôi đang trên đường đây. Chắc chắn chúng tôi sẽ đi đến một đâu đó.

SHARE
Previous articleXà vương tuyển hậu
Next articleXác ấm - CHƯƠNG 2: BƯỚC HAI: NẮM BẮT

CHƯA CÓ BÌNH LUẬN

TRẢ LỜI