Xác ấm – CHƯƠNG 2: BƯỚC HAI: NẮM BẮT

0
53

CHƯƠNG 2: BƯỚC HAI: NẮM BẮT

TÔI CÒN TRẺ. Tôi là một cậu thiếu niên tràn trề sức khỏe, mạnh mẽ, sung sức, đầy năng lượng. Nhưng tôi đang già đi. Mỗi giây trôi qua lại làm tôi thêm tuổi. Các tế bào của tôi bị dàn mỏng hơn, cứng lại, lạnh đi, sẫm màu dần. Tôi mới mười lăm tuổi, nhưng mỗi cái chết quanh tôi lại làm tôi già đi một thập kỉ. Mỗi điều khủng khiếp, mỗi bi kịch, mỗi khoảnh khắc buồn đau. Chẳng mấy chốc tôi sẽ trở thành thiên cổ.

Tôi đây, Perry Kelvin, đang ở trong Sân vận động. Tôi nghe thấy tiếng chim hót trên tường. Tiếng bồ câu gù, tiếng chim sáo líu lo. Tôi ngẩng lên hít một hơi thật sâu. Gần đây không khí đã trở nên trong lành hơn nhiều, ngay cả ở nơi này. Tôi tự hỏi liệu đây có phải mùi của thế giới thuở còn mới mẻ, bao nhiêu thế kỉ trước khi có ống khói. Tôi vừa bực bội vừa thích thú khi nghĩ rằng chúng ta sẽ không bao giờ biết chắc, rằng bất chấp nỗ lực của các sử gia, các nhà khoa học và thi sĩ, sẽ vẫn luôn có những điều chúng ta không bao giờ biết. Bài hát đầu tiên nghe ra sao. Cảm giác khi ngắm bức ảnh chụp đầu tiên. Ai là người đã trao nụ hôn đầu tiên, và nụ hôn đó có tuyệt vời hay không.

“Anh Perry!”

Tôi mỉm cười vẫy tay với người hâm mộ nhỏ tuổi trong lúc nó theo các anh chị em nuôi xếp hàng qua đường, tay nắm tay. “Chào… nhóc,” tôi đáp lại. Tôi chưa bao giờ nhớ nổi tên nó.

“Bọn em đang ra vườn đấy.”

“Thích nhỉ!”

Julie Grigio cười với tôi trong lúc dẫn đầu bọn trẻ như con thiên nga mẹ. Trong thành phố hàng ngàn người này, hầu như ngày nào tôi cũng chạm mặt nàng, khi thì gần trường tức là cũng không lạ lắm, khi thì ở những góc ngoài của sân vận động nơi chúng tôi ít có cơ hội đụng nhau hơn. Nàng đang bám theo tôi hay tôi đang bám theo nàng? Dù là thế nào đi chăng nữa thì mỗi lần thấy nàng, tôi đều cảm thấy một luồng adrenaline và hormone căng thẳng xuyên suốt qua người, dồn vào lòng bàn tay làm chúng rịn mồ hôi và dồn lên mặt làm tôi nổi mụn. Lần trước chúng tôi gặp nhau, nàng đã đưa tôi lên mái. Chúng tôi ngồi nghe nhạc hàng giờ, và khi mặt trời lặn, tôi dám chắc là chúng tôi suýt nữa đã hôn nhau.

“Đi với bọn mình không, Perry?” nàng hỏi. “Bọn mình đang đi tham quan đây!”

“Ờ, vui nhỉ… tham quan một chỗ mình vừa làm việc suốt tám tiếng đồng hồ.”

“Ở đây thì lấy đâu ra nhiều chỗ tham quan.”

“Mình cũng thấy thế rồi.”

Nàng vẫy tay gọi tôi lại và tôi lập tức làm theo, trong khi cố tỏ ra miễn cưỡng. “Chúng nó không được ra ngoài bây giờ hay sao?” Tôi hỏi, nhìn đám trẻ đi đều bằng những bước chân vụng về nối gót nhau.

“Cô Grau sẽ nói thế này đã là ra ngoài rồi.”

“Ý mình là bên ngoài thực sự ấy. Cây cối, sông ngòi, v.v.”

“Phải đợi đến khi mười hai tuổi kia.”

“Kinh khủng nhỉ.”

“Ừ…”

Chúng tôi bước đi trong im lặng, chỉ có mấy tiếng trẻ con líu lo sau lưng. Tường Sân vận động vươn cao vẻ che chở như những bậc phụ huynh sẽ chẳng bao giờ được lũ trẻ này biết đến. Sự phấn khích tôi cảm thấy khi được gặp Julie đã tối sầm lại dưới một đám mây u sầu bất ngờ kéo đến.

“Làm sao cậu có thể chịu được chỗ này?” Tôi nói, gần như chẳng thành một câu hỏi hẳn hoi.

Julie nhíu mày nhìn tôi. “Bọn mình có được ra ngoài đấy chứ. Hai lần một tháng.”

“Mình biết, nhưng…”

Nàng chờ đợi. “Gì nào, Perry?”

“Cậu đã bao giờ tự hỏi xem nó có đáng hay không?” Tôi chỉ vơ vẩn về phía bức tường. “Tất cả những cái này ấy.”

Vẻ mặt nàng đanh lại.

“Ý mình là, bọn mình sống trong này có tốt hơn chút nào không?”

“Perry,” nàng quát, gay gắt đến không ngờ. “Cậu đừng có nói kiểu như thế, mẹ kiếp, không được nói như thế.”

Nàng nhận ra bọn trẻ sau lưng chúng tôi đã im bặt, co rúm cả người. “Chị xin lỗi,” nàng thì thào với bọn trẻ vẻ bí mật. “Từ bậy đấy.”

“Mẹ kiếp!” Anh bạn nhỏ của tôi hét, và cả hàng cười phá lên.

Julie đảo mắt. “Tuyệt thật.”

“Chậc chậc.”

“Cậu im đi, tớ nói thật đấy. Cậu vừa nói toàn những điều xấu xa.”

Tôi băn khoăn nhìn nàng.

“Bọn mình được ra ngoài hai lần một tháng. Nếu đi thu gom đồ thì sẽ nhiều hơn. Và bọn mình được sống.” Nghe như nàng đang đọc thuộc lòng một đoạn Kinh thánh vậy. Hay một câu châm ngôn cổ. Hình như nàng cũng nhận ra vẻ thiếu tự tin của mình, nên nàng liếc nhìn tôi, rồi lập tức quay ngoắt về phía trước. Giọng nàng nhỏ hẳn lại. “Không được nói những chuyện xấu xa đó nữa nếu cậu muốn cùng đi tham quan với bọn mình.”

“Xin lỗi”

“Cậu chưa ở đây lâu. Cậu lớn lên ở một nơi an toàn. Cậu không hiểu rõ các mối nguy đâu.”

Nghe vậy trong tôi tràn ngập các cảm xúc tăm tối, nhưng tôi bắt mình im miệng. Tôi không biết nỗi đâu nào đã khiến nàng thốt ra những lời đó, nhưng tôi biết nó thẳm sâu vô cùng. Nó khiến nàng trở nên khắc nghiệt nhưng đồng thời cũng hết sức dịu dàng. NÓ là những chiếc gai và bàn tay của nàng, vươn ra từ bụi rậm.

“Xin lỗi,” tôi nhắc lại và lần tìm bàn tay ấy, kéo nó ra khỏi túi quần bò của nàng. Bàn tay nàng ấm nóng. Tôi siết chặt những ngón tay lạnh ngắt của mình quanh tay nàng, và trong đầu tôi bỗng hiện lên những hình ảnh chẳng hay ho gì của những xúc tu bạch tuộc. Tôi chớp mắt gạt nó ra khỏi óc. “Không nói chuyện xấu xa nữa.”

Bọn trẻ ngây người nhìn tôi vẻ háo hức, mắt mở to, má nhẵn mịn. Tôi tự hỏi chúng là gì, chúng có nghĩa gì, và điều gì sẽ xảy ra với chúng.

“Bố này.”

“Sao cơ?”

“Con nghĩ là con có bạn gái rồi.”

Bố tôi hạ tấm bìa kẹp giấy tờ xuống và chỉnh lại chiếc mũ bảo hộ. Một nụ cười hiện ra trên những nếp nhăn hằn sâu trên mặt ông. “Thật ư?”

“Con nghĩ vậy.”

“Ai thế?”

“Julie Grigio ạ.”

Bố gật đầu. “Bố đã gặp con bé. Nó… này! Doug!” Ông gặp người qua mép tường chắn và hét gọi một công nhân đang vác một cây cột thép. “Đấy là cỡ bốn mươi. Doug, ta đang dùng cỡ năm mươi cho nhánh tường chính cơ mà.” Ông quay lại nhìn tôi. “Con bé dễ thương đấy. Nhưng con phải cẩn thận, nó có vẻ dễ nổ lắm.”

“Con thích chất nổ.”

Bố tôi mỉm cười. Mắt ông nhìn xa xăm. “Bố cũng thế, nhóc ạ.”

Chiếc bộ đàm của ông sột soạt kêu và ông cầm nó lên để truyền lời hướng dẫn. Tôi nhìn toàn cảnh bức tường bê tông xấu xí đang được dựng lên. Chúng tôi đang đứng ở đầu cuối bức tường, cao hơn bốn mét, giờ đã dài chừng vài khối nhà. Một đoạn tường khác nằm song song với nó, biến Phố Chính thành một hành lang khép kín chạy xuyên qua trung tâm thành phố. Các công nhân đi đi lại lại bên dưới, đặt móng bằng bê tông, dựng khung.

“Bố này?”

“Gì cơ?”

“Bố có nghĩ như thế là ngu ngốc không?’

“Cái gì?”

“Yêu ấy.”

Ông ngừng lại rồi cất bộ đàm đi. “Ý con là sao? Pear.”

“Ý con là, bây giờ ấy. Khi mọi chuyện đang như thế này. Ý con là chẳng có gì chắc chắn cả. Liệu có ngu ngốc không khi phí thời gian cho những chuyện như vậy giữa một thế giới như thế này? Khi tất cả có thể sụp đổ bất cứ lúc nào?”

Bố nhìn tôi một lúc lâu. “Khi bố gặp mẹ con,” ông nói, “Bố cũng đã tự hỏi mình như thế. Mà hồi ấy chúng ta mới phải chịu vài cuộc chiến tranh và suy thoái thôi đấy.” Bộ đàm của ông lại cất tiếng. Ông lờ nó đi. “Bố đã có mười chín năm với mẹ con. Nhưng con có nghĩ là bố sẽ từ chối nếu bố biết bố sẽ chỉ có được một năm hay không? Hay chỉ là một tháng?” Ông nhìn bức tường và lắc đầu. “Không có cái gì làm chuẩn bắt cuộc sống phải xảy ra như thế nào, Perry ạ. Con không thể ngồi đợi một thế giới lý tưởng được. Thế giới sẽ chỉ luôn như nó hiện nay, và con phản ứng lại như thế nào là phụ thuộc vào con.”

Tôi nhìn những ô cửa sổ tối om của các tòa nhà văn phòng đã đổ nát. Tôi tưởng tượng ra bộ xương của đám nhân viên vẫn ngồi bên bàn, làm việc cho một chỉ tiêu mà học sẽ không bao giờ đạt được.

“Giả sử bố chỉ có được một tuần với mẹ thì sao?”

“Perry…” bố tôi nói, thoáng kinh ngạc. “Thế giới không kết thúc ngay ngày mai, con ạ. Con hiểu không? Chúng ta đang tìm cách sửa chữa nó. Con nhìn xem.” Ông chỉ vào đám công nhân bên dưới. “Chúng ta đang xây đường. Chúng ta sẽ nối liền các sân vận động và những chỗ trú ẩn khác, giúp các khu định cư liên kết với nhau, góp chung của cải và nghiên cứu, để có thể bắt đầu tìm thuốc chữa.” Bố vỗ vai tôi. “Bố con ta, tất cả mọi người… chúng ta sẽ qua được. Con đừng bỏ cuộc. Được chứ?”

Tôi khẽ thở ra một hơi, nhượng bộ. “Được ạ.”

“Con hứa chứ?”

“Con hứa.”

Bố tôi mỉm cười. “Bố sẽ bắt con giữ lời đấy.”

Mi có biết chuyện gì xảy ra sau đó không, thây ma? Perry thì thầm từ bóng tối sâu thẳm trong tiềm thức của tôi. Mi có đoán được không?

“Tại sao cậu lại cho thấy những điều này?” tôi hỏi bóng tối.

Bởi đây là tất cả những gì còn lại của ta, và ta muốn mi cảm nhận được nó. Ta chưa sẵn sàng để biến mất.

“Tôi cũng thế.”

Tôi cảm nhận được một nụ cười lạnh lùng ẩn hiện trong giọng nói của gã.

Tốt.

“Cậu đây rồi.”

Julie trèo lên thang và đứng lên mái ngôi nhà mới của tôi, ngắm nhìn tôi. Tôi đưa mắt nhìn nàng, rồi lại vùi mặt vào lòng bàn tay. Nàng đến gần tôi, cẩn thận dò bước trên những tấm kim loại mỏng, rồi ngồi xuống cạnh tôi ở mép mái nhà. Chân chúng tôi thò xuống đu đưa chầm chập trong không khí mùa thu se lạnh.

“Perry?”

Tôi không trả lời. nàng ngắm một bên khuôn mặt tôi. Nàng đưa tay ra, lùa hai ngón tay qua mái tóc bờm xờm của tôi. Cặp mặt xanh biếc của nàng lôi kéo tôi như trọng lực, nhưng tôi cố cưỡng lại. Tôi nhìn xuống con phố đầy bùn.

“Thật không tin được là mình ở đây,” tôi lầm bầm. “Ngôi nhà ngu ngốc này. Với những thứ đồ bỏ này.’

Nàng không đáp lại ngay. Khi nàng lên tiếng, giọng nàng rất nhẹ nhàng. “Họ đâu phải đồ bỏ. Họ đã được yêu thương.”

“Chỉ trong chốc lát thôi.”

“Bố mẹ họ không bỏ đi. Họ đã bị cướp đi.”

“Thế thì có khác gì nhau đâu.”

Nàng nhìn tôi chăm chú đến nỗi tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài quay sang đáp lại cái nhìn của nàng. “Mẹ cậu đã rất yêu cậu, Perry ạ. Cậu không bao giờ phải nghi ngờ điều đó. Và cả bố cậu cũng vậy.”

Tôi không thể chịu nổi sức ép này nữa. Tôi bỏ cuộc và để cho nó đè nặng lên mình. Tôi quay đầu tránh Julie khi nước mắt trào ra.

“Nếu muốn thì cậu cứ tin là Chúa đã bỏ rơi cậu, hay số phận hay định mệnh đã bỏ rơi cậu, cái gì cũng được, nhưng ít ra cậu cũng biết là họ đã yêu cậu.”

“Có gì quan trọng đâu.” Tôi rên lên, tránh mắt nàng. “Ai cần quan tâm chứ, họ đã chết rồi. Đó mới là thực tại. Đó mới là điều đáng kể.”

Chúng tôi không nói gì suốt mấy phút. Làn gió lạnh làm tay chúng tôi nổi da gà. Những chiếc lá rực rỡ tìm đường đến từ tận những khu rừng ở bên ngoài, xoay tròn rơi vào cái miệng khổng lồ của Sân vận động và hạ cánh lên mái nhà.

“Cậu biết không, Perry,” Julie nói. Giọng nàng run lên vì nỗi đau riêng. “Tất cả mọi thứ rồi sẽ phải chết. Chúng ta đều biết thế. Con người, thành phố, cả các nền văn minh. Không có gì tồn tại mãi mãi cả. Vì thế nếu sự tồn tại chỉ là hệ nhị phân, sống hoặc chết, ở đây hoặc không ở đây, thì tất cả sẽ có ý nghĩa quái gì?” Nàng ngẩng lên nhìn những chiếc lá rụng và chìa tay ra bắt được một cái, một chiếc lá phong đỏ rực. “Mẹ mình vẫn thường nói đó là lí do chúng ta có kí ức. Và điều trái ngược của kí ức – hy vọng. Để cho những điều đã biến mất vẫn còn ý nghĩa. Để chúng ta có thể dựa vào quá khứ mà xây dựng tương lai.” Nàng xoay xoay chiếc lá trước mặt. “Mẹ mình nói cuộc sống sẽ chỉ có ý nghĩa nếu chúng ta nhìn được thời gian theo cách của Chúa. Quá khứ hiện tại và tương lai cùng một lúc.”

Tôi cho phép mình quay sang nhìn Julie. Nàng thấy những giọt nước mắt của tôi và lau đi một giọt. “Thế tương lai là gì?” Tôi hỏi, không lùi lại. “Mình có thể thấy quá khứ và hiện tại nhưng còn tương lai thì sao?”

“Ờ…” nàng cất tiếng cười. “Mình đoán đó là phần rắc rối đấy. Quá khứ được tạo thành bởi sự kiện và lịch sử. Mình đoán tương lai chỉ là hy vọng mà thôi.”

“Hoặc là nỗi sợ.”

“Không.” Nàng lắc mạnh đầu và cài chiếc lá lên tóc tôi. “Hy vọng.”

Sân vận động hiện ra ở cuối đường chân trời trong khi những Người Chết lảo đảo tiến tới trước. Nó vươn cao hơn phần lớn những tòa nhà xung quanh và chiếm hết vài khối phố, một vật tưởng niệm lòe loẹt dành cho một kỉ nguyên dư thừa, một thế giới đầy những hoang phí và những giấc mơ lầm lạc đã chấm dứt hoàn toàn.

Đoàn Xác Sống chúng tôi đã đi bộ hơn một ngày nay, lang thang trên những con đường rộng mở như dân hippi trong truyện của Kerouac, chỉ khác là không có tiền mua xăng thôi. Những người khác thấy đói, và họ cùng M bàn bạc chớp nhoáng, gần như không dùng lời, trước khi dừng lại ở một căn nhà cũ bị bịt kín để kiếm ăn. Tôi đợi ở ngoài. Bữa ăn gần đây nhất của tôi đã lâu lắm rồi, nhưng không hiểu sao tôi vẫn thấy thoải mái lạ lùng. Trong các huyết mạch của tôi là một cảm giác trung tính, cân bằng giữa đói khát và no nê. Tiếng hét vọng ra từ ngôi nhà xuyên qua tôi sắc bén hơn nhiều so với những khi tôi tự tay giết người, thế mà lúc này tôi còn không ở gần họ nữa. Tôi đứng thật xa ngoài phố, hai tay bịt chặt tai và đợi cho mọi chuyện kết thúc.

Khi họ bước ra, M tránh cái nhìn của tôi. Anh đưa mu bàn tay quệt máu trên miệng và liếc tôi vẻ hối lỗi trước khi vượt lên trước. Những người khác thì chưa đạt được đến mức có lương tâm như M, nhưng họ cũng có vẻ gì đó khang khác. Họ không lấy đồ thừa đem về. Họ lau sạch bàn tay vấy máu lên quần. Họ bước đi trong sự im lặng lúng túng. Cũng là một khởi đầu rồi.

Khi đến gần Sân vận động đủ để thoáng ngửi thấy mùi Người Sống, tôi xem xét lại kế hoạch trong đầu mình. Thực ra kế hoạch cũng chẳng có gì. Nó đơn giản như trò trẻ con, nhưng nó sẽ thành công vì lí do này: chưa ai từng thử làm thế. Chưa từng ai có đủ quyết tâm để tìm ra cách.

Còn cách cổng vào chừng vài khối nhà, chúng tôi dừng lại ở một căn nhà bỏ hoang. Tôi đi vào nhà tắm và ngắm mình trong gương như những chủ nhân trước kia của ngôi nhà hẳn đã từng làm cả ngàn lần. Tôi điểm qua trong đầu những nghi thức buổi sáng lặp đi lặp lại đến phát nhàm, để nhập vai. Đồng hồ báo thức – tắm – thay quần áo – ăn sáng. Trông tôi đã bảnh bao chưa? Tôi đã cố hết sức chưa? Khi bước ra khỏi cánh cửa kia tôi đã sẵn sàng cho tất cả những gì thế giới có thể ném vào tôi chưa?

Tôi bôi ít keo lên tóc. Tôi xịt chút nước cạo râu lên mặt. Tôi chỉnh lại cà vạt.

“Sẵn sàng rồi,” tôi bảo những người khác.

M ngắm nghía tôi. “Cũng được đấy.”

Chúng tôi tiến về phía cổng.

Khi chỉ còn cách mấy khối nhà, mùi Người Sống trở nên gần như không chịu nổi. Sân vận động tựa như một tháp phát điện Tesla khổng lồ liên tục phát ra những tia chớp sự sống hồng hào thơm phức. Tất cả mọi người trong nhóm tôi đều ngẩng lên nhìn nó mê mải. Vài người còn để mặc cho nước dãi nhỏ ròng ròng. Nếu không phải là họ vừa ăn xong thì kế hoạch sơ sài của chúng tôi sẽ đổ bể ngay lập tức.

Trước khi đến trước cánh cổng, chúng tôi rẽ sang một phố bên và dừng lại ở một ngã tư, nấp đằng sau một chiếc xe tải chuyển phát nhanh. Tôi ló ra một chút để ngó quanh góc phố. Cách đó chưa đến hai khối nhà, bốn lính canh đang đứng trò chuyện trước cổng chính của Sân vận động, súng trường đeo lủng lẳng trên vai. Những câu nói cụt ngủn kiểu nhà binh của họ còn ít âm tiết hơn cả lời nói của chúng tôi.

Tôi nhìn M. “Cảm ơn. Vì… việc này.”

“Không có gì.” M đáp.

“Đừng chết.”

“Sẽ… cố. Sẵn sàng… chưa?”

Tôi gật đầu.

“Sống động… lên nhé.”

Tôi mỉm cười. Tôi cào tay chải tóc lại một lần nữa, hít một hơi thật sâu, rồi vùng chạy.

“Cứu!” Tôi hét lên và vẫy tay. “Cứu, chúng ở… ngay sau tôi!”

Với những bước chân đều đặn chắc chắn nhất, tôi chạy về phía cổng. M và những Người Chết khác lảo đảo đuổi theo tôi, phát ra những tiếng rên rỉ rất kịch.

Đám lính canh phản ứng lại theo bản năng: họ giơ súng lên và nổ vào những Xác Sống. Một cánh tay bị bắn bay. Một cẳng chân. Một trong số chín Xác Sống vô danh kia bị mất đầu và gục xuống. Nhưng không có một vũ khí nào chĩa về phía tôi. Vừa tập trung vừa mường tượng ra vẻ mặt của Julie trong không khí, tôi vừa lao đi với sự quyết tâm của một vận động viên Olympic. Sải chân của tôi rất tốt, tôi có thể cảm thấy thế. Trông tôi rất bình thường, đầy sức sống, và tôi lập tức được xếp vào một loại khác: “Con người”. Hai lính canh nữa xuất hiện giơ cao khẩu súng, nhưng họ thậm chí còn chẳng thèm nhìn tôi. Họ nheo mắt, ngắm bắn, và họ hét, “Mau lên! Chạy vào trong đi!”

Hai Xác Sống khác ngã xuống sau lưng tôi. Khi lách qua cánh cổng, tôi thấy M và những Người Chết còn lại chuyển hướng và rút lui. Vừa quay đi, bước chân của họ lập tức thay đổi. họ không lảo đảo nữa mà chạy đi như những sinh vật sống. Không nhanh như tôi, cũng không uyển chuyển bằng, nhưng họ chạy một cách có chủ đích. Đám lính canh băn khoăn ngừng bắn. “Cái quái gì thế..?” một người lẩm bẩm

Ngay trong cánh cổng là một người cầm tấm bìa kẹp tờ giấy và quyển sổ. Một nhân viên nhập cảnh đang sẵn sàng để ghi tên tôi và bắt tôi điền vào một đống đơn từ, rồi sau đó rất có thể sẽ tống tôi ra ngoài. Suốt bao năm nay, nhờ người này mà Người Chết chúng tôi được cung cấp những người lang thang không được bảo vệ mà chúng tôi thường ăn ở bên ngoài những khu đổ nát. Ông ta tiến về phía tôi, lật lật quyển sổ, không hề nhìn vào tôi. “Suýt chết, phải không anh bạn? Giờ thì anh phải…”

“Ted, ra mà xem cái quái quỉ gì này!”

Ted ngẩng lên, nhìn qua cánh cổng mở, và thấy mấy người lính đang đứng đờ ra. Ông ta liếc nhìn tôi. “Đợi ở đây nhé”

Ted chạy ra đứng cạnh đám lính canh, trố mắt nhìn những Xác Sống linh hoạt đến rợn người đang lao về đằng xa như người thật. Tôi tưởng tượng ra vẻ mặt của những người đàn ông kia trong khi bụng họ cồn cào cái cảm giác đáng sợ rằng mặt đất dưới chân đang chuyển động.

Nhất thời bị bỏ quên, tôi quay người chạy thẳng. Tôi chạy qua khoảng hành lang tối, chạy về phía ánh sáng ở đầu bên kia, tự hỏi đây là đường ra khỏi bụng mẹ hay đường lên Thiên đàng. Tôi đang đến hay đang đi? Dù thế nào thì cũng đã quá muộn để quay trở lại rồi. Ẩn náu dưới cái ánh sáng chạng vạng của bầu trời đỏ quạnh, tôi bước vào thế giới của Người Sống.

KHU THỂ THAO mà Julie gọi là nhà rộng đến khó hiểu, có lẽ nó là sân vận động siêu cấp được xây vào cái thời mà rắc rối lớn nhất của thế giới chỉ là không biết tổ chức tiệc tùng ở đâu. Từ bên ngoài, nó chẳng có gì ngoài những bức tường khổng lồ hình ovan không có gì đặc biệt, một chiếc thuyền Noah bằng bê tông mà đến cả Chúa cũng không làm cho nổi được. Nhưng bên trong Sân vận động là linh hồn của nó: hỗn loạn nhưng làm ra vẻ có trật tự, như những khu ổ chuột lộn xộn của Brazil nếu chúng được thiết kế bởi một kiến trúc sư theo trường phái hiện đại vậy.

Tất cả ghế ngồi đã bị dỡ ra để lấy chỗ cho một hệ thống bàn cờ trải rộng gồm các tòa tháp chọc trời tý hon, những căn nhà lênh khênh được xây cao và hẹp một cách tự nhiên để tiết kiệm đất. Tường nhà được ghép linh tinh từ bất cứ thứ vật liệu nào họ góp nhặt được – một trong những tòa tháp cao hơn cả có móng bằng bê tông, nhưng càng cao lên thì càng mỏng manh hơn, từ thép cho đến nhựa cho đến tầng chín chênh vênh chỉ làm từ bìa cứng sũng nước. Nhìn bề ngoài hầu hết tòa nhà đều gợi ấn tượng chỉ gió thổi qua cũng đổ, nhưng toàn thể thành phố được đỡ bởi một mạng lưới dây thép chạy từ nhà này sang nhà khác để siết chặt toàn bộ hệ thống. Những bức tường bên trong của Sân vận động vươn cao lên hết thảy, với những ống nước, dây điện va cột thép bị cắt đâm lên khỏi lớp bê tông nom như bộ râu tua tủa. Những ngọn đèn đường yếu ớt tỏa ánh sáng vàng vọt nhạt nhòa, khiến cả thành phố trong quả cầu thủy tinh này luôn chìm trong bóng tối.

Ngay khi tôi bước ra khỏi đường hầm, xoang mũi tôi đã bị tấn công bởi một luồng mùi sự sống cực mạnh. Nó ở khắp quanh tôi, thơm sực đến nỗi làm tôi đau đớn, tôi cảm thấy như mình đang bị chết chìm trong một lọ nước hoa. Nhưng giữa làn hương sặc sụa ấy, tôi vẫn nhận ra Julie. Mùi hương đặc trưng của nàng nổi bật hơn những mùi khác, mời gọi tôi như một giọng nói nghe được dưới nước. Tôi đi theo nó.

Các con phố ở đây chỉ rộng bằng vỉa hè, làm từ những dải đường nhựa hẹp đổ lên trên lớp cỏ giả cũ kỹ, giờ còn lộ ra ở những chỗ chưa được rải nhựa như một thứ rêu xanh chói mắt. Trên biển tên phố không có tên. Thay vì đề tên bang hay tên tổng thống thì chúng chỉ có những biểu tượng màu trắng đơn giản: Quả Táo, Quả Bóng, Con Mèo, Con Chó – một bảng hướng dẫn học chữ cái cho trẻ con. Ở đâu cũng đầy bùn, bùn bám trơn trượt trên nhựa đường và chất đống ở các góc cùng với rác rưởi của cuộng sống thường nhật: lon nước ngọt, mẩu thuốc lá, áo mưa đã dùng, và vỏ đạn.

Tôi cố không trố mắt nhìn thành phố như một tên du khách nhà quê, nhưng có một cái gì đó còn hơn cả sự tò mò làm tôi không thể rời mắt khỏi từng lề đường, từng mái nhà. Mặc dù tất cả với tôi hết sức xa lạ, tôi vẫn cảm thấy một thoáng quen thuộc, thậm chí là hoài niệm nữa, và khi tôi đi dọc theo một con phố chắc có tên là Phố Mắt, một vài kí ức bị đánh cắp của tôi bắt đầu thức tỉnh.

Đây là nơi chúng ta bắt đầu. Đây là nơi họ dồn chúng ta đến một khi hai đầu bờ biển biến mất. Khi bom rơi. Khi bạn chúng ta chết đi và sống lại dưới một hình thù khác, xa lạ và tàn bạo.

Đó không phải giọng của Perry – là giọng của tất cả mọi người, một dàn đồng ca khe khẽ của tất cả những cuộc sống tôi đã nuốt trôi, giờ đang tụ tập trong căn phòng tăm tối của tiềm thức tôi để nhớ lại.

Đại lộ Quốc Kì, nơi họ cắm quốc kì chúng ta khi các quốc gia vẫn còn tồn tại và màu cờ vẫn còn quan trọng. Phố Súng, nơi họ dựng lên các trại chiến tranh, lên kế hoạch tấn công và phòng vệ để chống lại những kẻ thù không ngớt kéo tới, cả Người Sống lẫn Người Chết.

Tôi cúi gằm đầu mà đi, cố bám sát các bức tường. Khi gặp người đi theo chiều ngược lại, tôi nhìn thẳng về phía trước cho tới phút cuối cùng, rồi mới đưa mắt nhìn họ một cái thật nhanh để không có vẻ không giống con người. Chúng tôi bước vội qua mặt nhau chỉ với một cái gật đầu ngượng nghịu.

Chẳng mấy chốc ngôi nhà xây bằng nền văn minh nhân loại đã bị sụp đổ. Chỉ vài cơn gió mạnh là xong, sự cân bằng bị phá vỡ, phép màu bị hóa giải. Những công dân tốt nhận ra ranh giới đánh dấu cuộc sống của họ chỉ là tưởng tượng và có thể dễ dàng vượt qua. Họ có ham muốn, nhu cầu và sức mạnh để thỏa mãn chúng, và họ đã làm vậy. Khi đèn tắt, không còn ai giả vờ nữa.

Tôi bắt đầu thấy lo lo về quần áo của mình. Tất cả những người tôi gặp đều mặc quần bò dày màu xám, áo khoác không thấm nước, ủng lao động đầy bùn. Tôi nào có sống trong thế giới người ta vẫn còn ăn mặc vì đẹp nữa? Nếu không ai nhận ra tôi là Xác Sống thì họ vẫn có thể báo rằng có một tên điên rồ thích thời trang đang lang thang trên phố với chiếc áo sơ mi ôm và cà vạt. Tôi rảo bước nhanh hơn, cố bám theo mùi của Julie.

Đại lộ Đảo, nơi họ xây khoảng sân cho các buổi họp cộng đồng, nơi “họ” trở thành “Chúng ta”, hay ít nhất chúng ta cũng tin là vậy. Chúng ta bỏ phiếu chọn người lãnh đạo, những người đàn ông va phụ nữ dễ mến với hàm răng trắng tinh và cái lưỡi dẻo quẹo, và chúng ta dồn bao hi vọng cùng sợ hãi vào tay họ, dựa vào cái bắt tay rất chắc của họ mà tin rằng những bàn tay ấy đủ khỏe. họ làm chúng ta thất vọng, luôn là thế. Không thể có chuyện họ không làm chúng ta thất vọng – họ chỉ là con người, và chúng ta cũng vậy.

Tôi rẽ khỏi phố Mắt và tiến về trung tâm bàn cờ. Mùi của Julie rõ rệt hơn, nhưng tôi vẫn chưa nhận ra được hướng cụ thể của nó. Tôi cứ mong sẽ nhận được manh mối nào đó từ những lời nói trong đầu, nhưng những hồn ma già cỗi này không quan tâm gì đến cuộc tìm kiếm vớ vẩn của tôi.

Phố Ngọc, nơi chúng ta đã xây trường học khi rốt cuộc chúng ta cũng chấp nhận đây là thực tại, rằng đây là thế giới mà con cái chúng ta sẽ thừa hưởng. Chúng ta dạy chúng cách săn bắn, cách đổ bê tông, cách giết và cách tồn tại, và nếu chúng sống được tới lúc đó, nếu chúng nắm vững các kĩ năng đó và có thời gian rảnh, thì chúng ta sẽ dạy chúng cách đọc và viết, cách lý luận, cách liên hệ, cách hiểu thế giới của chúng. Mới đầu chúng ta hết sức cố gắng, chúng ta còn nhiều hi vọng và niềm tin, nhưng cũng giống như trèo lên ngọn đồi dốc trong mưa, nhiều người đã trượt xuống.

Tôi nhận ra bản đồ trong những kí ức này đã hơi quá đát con phố họ gọi là phố Ngọc đã được đổi tên. Biển tên phố mới hơn, sơn màu xanh tươi lá cây, và thay vì một biểu tượng thì trên đó có ghi chữ. Tò mò, tôi rẽ xuống ngã tư này và tiến về phía một căn nhà rộng bằng kim loại khác hẳn những nhà khác. Mùi của Julie vẫn còn ở xa, nên tôi biết tôi không nên dừng lại, nhưng ánh sáng nhàn nhạt qua các ô cửa sổ dường như đang gây một nỗi đau đớn không lời cho những giọng nói trong tâm can tôi. Khi tôi áp mũi vào cửa kính, tiếng nói của họ liền im bặt.

Đó là một căn phòng rộng thênh thang. Những chiếc bàn kim loại trắng xếp thành dãy dưới những ngọn đền neon. Mấy chục đứa trẻ, tất cả đều dưới mười tuổi, được chia theo hàng thành từng nhóm: một hàng sửa máy phát điện, một hàng xử lý xăng, một hàng lau súng trường, mài dao, khâu vết thương. Và ở tận cuối, gần sát cửa sổ tôi đang nhòm qua: một hàng đang mổ tử thi. Nhưng tất nhiên chúng không phải là tử thi. Khi một cô bé tám tuổi với hai bím tóc vàng bóc thịt khỏi miệng vật thí nghiệm của mình để lộ một nụ cười méo mó bên dưới, mắt vật này bật mở và nó nhìn quanh, hơi cựa quậy dưới những dây trói, rồi lại thả lỏng người với vẻ mệt mỏi và chán chường. Nó nhìn về phía cửa sổ của tôi và mắt chúng tôi giao nhau ra chốc lát, trước khi cô bé cắt mắt nó ra.

Chúng ta đã cố tạo ra một thế giới tươi đẹp ở nơi này, những giọng nói thì thầm. Có những người coi sự tận thế là cơ hội bắt đầu lại từ đầu, để xóa hết mọi sai lầm của lịch sử – để sống lại thời niên thiếu vụng dại của nhân loại với sự thông thái của thời hiện đại. Nhưng tất cả đã xảy ra quá nhanh.

Tôi nghe thấy có tiếng xô xát mạnh từ đầu bên kia tòa nhà, tiếng giày quẹt lên nền xi măng, khuỷu tay thúc vào tấm kim loại. Có tiếng gầm gừ trầm trầm, khàn đục. Tôi đi ngang qua tòa nhà, tìm chỗ nhìn tốt hơn.

Bên ngoài những bức tường của chúng ta là hàng đoàn người và quỷ dữ chỉ hòng cướp đi những gì chúng ta có, và trong này là món hổ lốn điên loạn của riêng chúng ta, bao nhiêu nền văn hóa và ngôn ngữ và những giá trị không thích hợp bị nén vào một cái hộp nhỏ xíu. Thế giới của chúng ta quá nhỏ bé để chúng ta có thể chia sẻ nó một cách bình yên không ai nhất trí, không thể có được sự hòa thuận. Vì vậy chúng ta đã thay đổi mục tiêu của mình.

Qua một ô cửa sổ khác, tôi thấy một khoảng trống rộng ngang cái nhà kho, lờ mờ sáng, khắp nơi đầy xe hỏng và những mẩu vụn gạch đá như muốn dựng lại cảnh thành phố bên ngoài. Một đám trẻ con lớn hơn vây quanh một bãi quây bằng dây thép và những tấm chắn đường bằng bê tông. Trông nó giống như “khu tự do ngôn luận” thường được dùng để ngăn người biểu tình bên ngoài các cuộc hội họp chính trị, nhưng thay vì tập trung đầy người chống đối đang cầm biển thì trong đó lại chỉ có bốn người: một thằng bé trang bị từ đầu đến chân bằng áo giáp cảnh sát, và ba Người Chết đã khô quắt lại.

Những bác sĩ thời Trung cổ có thể bị chê trách vì phương pháp của họ không? Những trò chích máu, dùng đỉa, hay khoan lỗ trong sọ? Họ chỉ biết mò mẫm tìm đường một cách mù lòa, cố nắm bắt những điều bí ẩn trong một thế giới không khoa học, nhưng bệnh dịch đã tấn công họ, họ phải làm điều gì đó. Khi đến lượt chúng ta thì cũng chẳng có gì khác. Bất kể mọi kĩ thuật và sự khai sáng của chúng ta, bất kể những dao mổ laser và dịch vụ xã hội, cũng chẳng có gì khác. Chúng ta cũng mù lòa như vậy và cũng tuyệt vọng như vậy.

Cứ nhìn dáng đi lảo đảo của họ là tôi biết những Người Chết trong đấu trường này đang chết đói. Chắc hẳn họ phải biết mình đang ở đâu và chuyện gì sẽ xảy ra với họ, nhưng họ không còn lại chút tự chủ ít ỏi nào nữa. Họ lao vào thằng bé và nó giơ khẩu súng lên ngắm bắn.

Thế giới bên ngoài đã chìm trong biển máu, và giờ những ngọn sóng đỏ ngầu ấy đang phả vào thành trì cuối cùng của chúng ta – chúng ta phải chống trụ lại tường thành. Chúng ta nhận ra rằng sự thật khách quan nhất chúng ta có thể đạt được là dựa vào niềm tin của số đông, vì vậy chúng ta có thể chọn số đông và lờ đi những giọng nói khác. Chúng ta bổ nhiệm các vị tướng và các chủ thầu, cảnh sát và kĩ sư, chúng ta loại bỏ hết những vật trang trí không cần thiết khác. Chúng ta nấu chảy lí tưởng của mình trong hơi nóng và áp suất khủng khiếp cho đến khi những phần mềm yếu cháy hết, và những gì còn lại là một khung cứng đã được tôi luyện đủ để gánh chịu thế giới chúng ta đã tạo ra.

“Sai rồi!” Thầy giáo quát thằng bé trong đấu trường khi nó nhắm súng vào đám Người Chết đang tiến đên làm ngực họ thủng lỗ chỗ và bắn bay ngón tay ngón chân họ. “Bắn vào đầu, quên những phần khác đi!” Thằng bé bắn thêm hai phát nữa nhưng trượt hẳn vào trần nhà bằng gỗ nặng. Xác Sống nhanh nhất túm lấy tay nó và giật khẩu súng ra, loay hoay với cái chốt an toàn một lát, rồi ném khẩu súng sang bên và xô thằng bé vào hàng rào, nhe răng cắn mạnh vào tấm chắn mặt trên mũ bảo hiểm của nó. Thầy giáo lao vào đấu trường, ấn một khâu súng lục vào đầu Xác Sống ấy, bắn một phát, rồi lại tra súng vào bao. “Phải nhớ,” ông ta nói với toàn thể phòng học, “súng trường tự động khi bắn sẽ bị giật lại làm nòng súng bật lên, đặc biệt là ở những khẩu Mossberg cũ này, vì vậy phải nhắm bắn thấp, nếu không các em sẽ bắn lên trời đấy.” Ông ta nhặt khẩu súng lên và dúi vào bàn tay run rẩy của thằng bé. “Tiếp tục.”

Thằng bé ngần ngừ, rồi nhấc khẩu súng lên và bắn hai phát. Máu me đen sì bắn đầy tấm chắn mặt nó. Nó giật chiếc mũ bảo hiểm ra và nhìn hai xác chết dưới chân mình, thở hổn hển, cố không òa khóc.

“Tốt,” thầy giáo nói. “Tuyệt lắm, ai tiếp theo nào?”

Chúng ta biết việc này là sai trái. Chúng ta biết chúng ta đang hạ thấp mình theo những cách chúng ta còn không thể đặt tên nổi, và đôi khi chúng ta khóc than cho kỉ niệm về những ngày tốt đẹp hơn, nhưng chúng ta không còn thấy được sự lựa chọn nào khác. Chúng ta chỉ biết cố gắng hết sức để sống sót. Phương trình ở cốt lõi vấn đề của chúng ta quá rắc rối, và chúng ta quá kiệt sức để tìm lời giải.

Tiếng khụt khịt dưới chân cuối cùng cũng bứt tôi ra khỏi cảnh tượng sau cửa sổ. Tôi cúi xuống và thấy một chú cún Bec-giê đang phồng mũi đánh hơi chân tôi. Nó ngẩng lên nhìn tôi. Tôi nhìn xuống nó. Nó thích thú thở hồng hộc rồi bắt đầu gặm chân tôi.

“Trina, không!”

Một chú bé chạy đến túm lấy vòng cổ con chó, giật nó ra khỏi tôi và kéo nó về ô cửa mở của một ngôi nhà. “Chó hư.”

Trina quay lại nhìn tôi vẻ thèm thuồng.

“Xin lỗi anh!” Chú bé gọi với lại từ bên kia đường.

Tôi đưa tay vẫy nó một cái như muốn nói, không sao.

Một cô bé xuất hiện ở ngưỡng cửa đứng cạnh chú bé, bụng phưỡn ra, cặp mắt sẫm màu ngắm tôi chăm chú. Tóc cô bé đen nhánh, còn tóc chú bé lại vàng và xoăn tít. Cả hai đứa đều khoảng sáu tuổi.

“Anh đừng mách mẹ bọn em nhé?” Cô bé hỏi.

Tôi lắc đầu, cố nuốt trôi một luồng cảm xúc đột nhiên trào lên trong lòng. Giọng nói của hai đứa trẻ này, cách diễn đạt hoàn hảo đầy trẻ con của chúng…

‘Các em có… biết Julie không?” Tôi hỏi chúng.

“Julie Cabernet ấy ạ?” Chú bé hỏi lại.

“Julie Gri…gio.”

“Bọn em quý chị Julie Cabernet lắm. Thứ tư nào chị ấy cũng đọc cho bọn em nghe.”

“Đọc truyện.” Cô bé thêm vào.

Tôi không nhận ra cái tên này, nhưng nó đã khuấy động một chút kí ức nào đó. “Em có biết… chị ấy ở… đâu không?”

“Phố Hoa Cúc.” Chú bé trả lời.

“Không, phố Hoa chứ! Đấy là bông hoa.”

“Hoa cúc là bông hoa mà.”

“Ồ.”

“Chị ấy sống ở góc phố. Giao giữa phố Hoa Cúc và đại lộ Quỷ.”

“Đại lộ Bò chứ.”

“Đấy không phải con bò, đấy là Quỷ. Cả bò lẫn quỷ đều có sừng.”

“Ồ.”

“Cảm ơn,” tôi nói với bọn trẻ và quay lưng đi.

“Anh có phải là Xác Sống không?” Cô bé bẽn lẽn khẽ hỏi.

Tôi sững sờ. Cô bé đợi tôi trả lời, gót chân xoay xoay sang phải rồi sang trái. Tôi thả lỏng người, mỉm cười với cô bé và nhún vai. “Julie… không nghĩ vậy.”

Một giọng giận dữ từ tầng năm hét vọng xuống nói gì đó nào là về lệnh giới nghiêm, nào là đóng cửa lại và không được nói chuyện với người lạ, nên tôi vẫy tay chào hai đứa trẻ rồi đi về phía Hoa Cúc và Quỷ. Mặt trời đã lặn và bầu trời có màu gỉ sắt. Một chiếc loa ở đâu đó phát ra một loạt con số, và những ô cửa sổ quanh tôi tối sầm lại. Tôi tháo lỏng cà vạt ra và bắt đầu chạy.

Mùi của Julie mạnh dần lên theo từng khối nhà. Khi những ngôi sao đầu tiên hiện lên trên bầu trời hình ô van của Sân vận động, tôi rẽ ở góc đường và dừng lại trước một căn nhà biệt lập làm bằng nhôm trắng. Tất cả những tòa nhà ở đây đều dành cho nhiều gia đình, nhưng ngôi nhà này nhỏ hơn, hẹp hơn, và cách xa một quãng đầy bất tiện so với những nhà hàng xóm nằm san sát. Nó cao bốn tầng nhưng chiều rộng dường như còn chẳng đủ chia thành hai phòng, trông nửa giống một ngôi nhà chung cư, nửa giống tháp canh ở nhà tù. Tất cả các cửa sổ đều tối trừ một ban công tầng ba chìa ra từ chái nhà. Cái ban công có vẻ lãng mạn đến khập khiễng so với kiến trúc khắc khổ của ngôi nhà, cho đến khi tôi nhìn thấy những khẩu súng xoay nòng gắn ở các góc.

Nấp sau một đống thùng ở sân sau phủ cỏ nhân tạo, tôi nghe thấy có tiếng nói trong nhà. Tôi nhắm mắt lại, tận hưởng những âm sắc ngọt ngào và nhịp điệu gay gắt của chúng. Tôi nghe thấy tiếng Julie. Julie và một cô gái khác, bàn tán chuyện gì đó bằng giọng sôi nổi và đảo phách như nhạc jazz. Tôi khẽ đu đưa người, nhún nhảy theo nhịp trò chuyện của họ.

Cuối cùng câu chuyện cũng tàn dần, và Julie bước ra ban công. Nàng có đi mới một ngày, nhưng nỗi xúc động được xum họp trào lên trong tôi như thể chúng tôi đã xa nhau hàng thập kỉ. Nàng tì khuỷu tay lên lan can, chỉ mặc phong phanh một chiếc áo phông đen và để chân trần. ‘Thế đấy, mình lại ở đây rồi.’ Nàng cất tiếng, có vẻ chỉ đang nói cùng không khí. “Bố đã vỗ lưng mình khi mình bước qua cửa. Vỗ lưng mình thực sự, như một ông huấn luyện viên bóng bầu d*c chết tiệt ấy. Bố chỉ nói là, “Mừng con không sao.” Rồi chạy biến đi họp về một dự án gì gì đó. Mình không thể tin được là bố lại… ý mình là, bố chưa bao giờ tỏ ra âu yếm, nhưng mà…” Tôi nghe thấy một tiếng cạch nhỏ và nàng im lặng hồi lâu. Rồi lại một tiếng cạch nữa. “Trước khi mình gọi điện thì bố đã nghĩ là mình chết rồi đúng không? Ừ, thì đúng là bố đã cử người đi tìm kiếm, nhưng có mấy khi người ta quay trở lại từ một vụ như thế chứ? Vì vậy thì với bố… mình đã chết rồi. Và có lẽ mình đang tỏ ra quá khắt khe, nhưng mình không thể tưởng tượng ra cảnh bố khóc vì chuyện ấy. Dẫu ai là người báo tin cho bố thì chắc họ cũng vỗ lưng nhau mà nói ‘kiên cường lên, người lính’, rồi lại tiếp tục làm việc.” Nàng cúi xuống đất như muốn nhìn xuyên tới tận cái lõi địa ngục của trái đất. “Mọi người làm sao vậy?” Nàng nói, nhỏ đến mức tôi gần như không nghe nổi. “Họ thiếu sót một vài phần nào đó ngay từ khi sinh ra hay họ đánh rời chúng dọc đường mất rồi?”

Nàng im lặng một hồi, và tôi đang định ra mặt thì nàng đột nhiên bật cười, nhắm mắt lại và lắc đầu. “Mình còn nhớ cả cái gã ngớ ngẩn ấy… Mình nhớ R! Mình biết nghe thật là điên, nhưng có điên đến mức đấy không? Chỉ bởi vì anh ta là… cho dù anh ta là cái gì đi chăng nữa? Ý mình là, chẳng phải Xác Sống chỉ là chỉ là một cái tên ngu ngốc chúng ta nghĩ ra để đặt cho một dạng tồn tại mà chúng ta không hiểu? Tên thì có nghĩa gì đâu, phải không? Nếu chúng ta… Nếu có một thứ… “ Giọng nàng kéo dài ra rồi ngừng bặt, và nàng giơ chiếc máy ghi âm mini lên, trừng mắt nhìn nó. “Mẹ kiếp,” nàng lầm bầm. “Nhật kí ghi âm… không hợp với mình.” Nàng vung tay ném nó khỏi ban công. Nó đập vào một cái thùng chứa đồ rồi rơi xuống chân tôi. Tôi nhặt nó lên, bỏ vào túi áo và áp tay vào đó, cảm nhận những góc máy áp lên ngực. Nếu tôi còn quay lại chiếc 747 thì kỉ vật này sẽ được đặt gần chỗ tôi ngủ nhất.

Julie nhảy lên lan can ban công và ngồi quay lưng lại với tôi, viết lia lịa vào một cuốn sổ tay cũ kĩ.

Nhật kí hay là thơ?

Cả hai, ngốc ạ.

Tôi có được nhắc đến không?

Tôi bước ra khỏi bóng tối. “Julie,” tôi thì thào.

Nàng không giật mình. Nàng chậm rãi quay lại, và một nụ cười nở ra trên mặt nàng như băng tan độ xuân về. “Ôi… Chúa ơi,” nàng khẽ cười khúc khích, rồi nhảy xuống khỏi lan can và quay lại đối mặt với tôi. “R! Anh đang ở đây! Ôi Chúa ơi!”

Tôi cười. “Chào.”

“Anh làm gì ở đây vậy?” Nàng rít lên, cố nói thật nhỏ.

Tôi nhún vai và quyết định rằng cử chỉ này tuy dễ bị lạm dụng nhưng cũng có chỗ của của nó. Nó thậm chí còn là một từ vựng quan trọng trong thế giới không còn nói nổi nên lời của chúng tôi.

“Đến để… gặp cô.”

“Nhưng tôi phải về nhà, nhớ không? Anh phải nói lời tạm biệt mà.”

“Không hiểu sao cô… nói lời tạm biệt. Tôi nói… xin chào.”

Môi nàng giật giật không biết phản ứng ra sao, nhưng rồi nàng miễn cưỡng mỉm cười. “Trời ạ, anh sến thật đấy. Nhưng nói thật nhé, R…”

“Jules,” một tiếng gọi vọng ra từ trong nhà. “Vào đây, tớ muốn chỉ cho cậu xem cái này.”

“Một giây thôi, Nora.” Julie gọi với lại. Nàng cúi xuống nhìn tôi. “Chuyện này thật điên rồ, hiểu không? Anh sẽ bị giết. Chuyện anh thay đổi thế nào không thành vấn đề, những người đứng đầu ở đây không quan tâm đâu, họ sẽ không nghe, họ sẽ bắn anh ngay tức thì. Anh hiểu chứ?”

Tôi gật đầu. “Hiểu.”

Tôi bắt đầu trèo lên đường ống nước.

“Trời đất, R! Anh có nghe tôi nói không đấy?”

Đến lúc cách mặt đất khoảng một mét thì tôi bỗng nhận ra mặc dù tôi có thể chạy, nói và thậm chí là cả yêu nữa thì leo trèo vẫn là một kĩ năng tôi còn lâu mới thạo được. Tôi buông ống nước ra và ngã ngửa xuống. Julie đưa tay lên miệng, nhưng mấy tiếng cười vẫn buột ra.

“Này Cabernet!” Nora gọi. “Có chuyện gì thế? Cậu đang nói chuyện với ai à?”

‘Đợi tý, được không? Tớ chỉ dang ghi âm nhật kí thôi.”

Tôi đứng dậy và phủi bụi trên người. Tôi ngước lên nhìn Julie. Nàng cau mày, cắn môi. “R…” nàng nói vẻ khổ sở. “Anh không thể…”

Cửa sổ ban công bật mở và Nora xuất hiện, tóc vẫn dày và xoăn tít như trong kí ức tôi thấy từ bao năm trước. Tôi chưa bao giờ thấy cô đứng thẳng, và ngạc nhiên thấy cô rất cao, hơn Julie ít nhất một cái đầu, đôi chân dài nâu sạm, để trần dưới chiếc váy rằn ri. Tôi đã đoán cô và Julie là bạn học, nhưng giờ tôi nhận ra Julie lớn hơn vài tuổi, có lẽ khoảng ngoài hai mươi.

“Cậu đang…” Cô lên tiếng, rồi cô nhìn thấy tôi và lông mày cô dựng ngược lên. “Lạy Chúa lòng lành. Hắn đấy à?”

Julie thở dài. “Nora, đây là R. R, đây là Nora.’

Nora trố mắt nhìn tôi như thể tôi là quái vật Sasquatch, người tuyết Yeti, hay là một con ngựa thần vậy. “Ừm, rất vui được gặp anh… R.”

“Tôi cũng vậy,” tôi đáp, và Nora đưa tay lên bịt miệng để ngăn một tiếng kêu thích thú, rồi nhìn Julie, rồi lại nhìn tôi.

“Chúng ta làm gì bây giờ?” Julie hỏi Nora, cố không để ý đến vẻ hào hứng của cô. “Anh ấy tự dưng xuất hiện. Tớ đang cố bảo anh ấy là anh ấy sẽ bị giết mất.”

“Trước hết là hắn phải ở đây đã,” Nora nói, mắt vẫn không rời tôi.

“Lên nhà á? Cậu ngớ ngẩn chắc.”

“Thôi nào, bố cậu hai ngày nữa mới về. Ở trong nhà an toàn hơn là ngoài phố.”

Julie nghĩ ngợi một lát. “Được rồi. Đợi nhé, R, tôi xuống đây.”

Tôi đi vòng ra trước nhà và đứng ở cửa, bồn chồn chờ đợi trong chiếc áo sơ mi cà vạt. Nàng mở cửa với nụ cười thẹn thùng. Một đêm hội trường nơi tận cùng thế giới.

‘Chào Julie,” tôi nói, như thể cuộc trò chuyện vừa rồi chưa từng xảy ra vậy.

Nàng ngần ngừ, rồi bước tới ôm lấy tôi. “Tôi thật tình còn nhớ anh cơ đấy.” Nàng nói, vùi mặt vào áo tôi.

“Tôi… nghe thấy rồi.”

Nàng lùi lại để nhìn tôi, và đôi mắt lóe lên vẻ điên dại. ‘R này, nếu tôi hôn anh, thì tôi có bị… anh biết đấy… biến đổi không?”

Ý nghĩ của tôi nhảy loạn xạ như một đĩa nhạc giữa trận động đất. Theo như tôi biết thì chỉ có một miếng cắn, máu và tinh chất bị truyền đi một cách hung bạo như thế, thì Người Sống mới có thể gia nhập với Người Chết trước khi họ chết thực sự. Đó là cách duy nhất đẩy nhanh một điều không thể tránh khỏi. Nhưng tôi cũng dám chắc là chưa từng, chưa bao giờ, có ai đặt ra câu hỏi như Julie vừa rồi.

“Không… nghĩ vậy,” tôi đáp, “nhưng…”

Một ngọn đèn pha rọi sáng cuối phố. Tiếng hai lính gác quát tháo ra lệnh phá vỡ sự yên lặng buổi đêm.

“Chết tiệt, đội tuần tra đấy,” Julie thì thầm, rồi lôi tôi vào trong nhà. “Chúng ta phải tắt đèn thôi, sau giờ giới nghiêm rồi. Đi nào.”

Nàng chạy lên trên nhà và tôi đi theo, sự nhẹ nhõm và thất vọng pha trộn trong ngực tôi như những hóa chất bất ổn.

Nhà của Julie trống vắng đến rợn người. Trong bếp, trong phòng khách, trong gian sảnh ngắn và cầu thang dốc, các bức tường đều trắng trơn, không có thứ đồ trang trí. Các thứ bàn ghế ít ỏi đều bằng nhựa, và những ngọn đèn neon rọi xuống lớp thảm chống thấm màu be. Nó giống như văn phòng bị bỏ hoang của một công ty đã phá sản, chỉ còn lại những căn buồng rỗng âm vang và một chút tuyệt vọng còn vương vấn đâu đây.

Julie vừa đi vửa tắt đèn, làm cả căn nhà chìm vào bóng tối cho đến khi tôi lên đến buồng của nàng. Nàng tắt ngọn đèn trên trần và bật một cây đèn Tiffani[1] đặt cạnh giường. Tôi bước vào trong và chậm rãi quay vòng, thèm thuồng ngắm nghía thế giới riêng tư của Julie.

[1] Đèn có chụp bằng thủy tinh nhiều màu được thiết kế bởi Louis Comfort Tiffani

Nếu tâm trí nàng là một căn buồng, trông nó sẽ như thế này.

Mỗi bức tường là một màu khác nhau. Một bức màu đỏ, một bức màu trắng, một bức màu vàng, một bức màu đen, và trần nhà màu xanh da trời treo toàn máy bay đồ chơi. Hình như mỗi bức tường được thiết kế theo một chủ đề nhất định. Bức tường màu đỏ dán toàn cuống vé phim và áp phích ca nhạc, tất cả đã ngả nâu theo thời gian. Bức tường màu trắng thì đầy tranh, bắt đầu bằng những bức tranh nghiệp dư bằng màu acrylic ở dưới sàn cho đến ba tấm sơn dầu tuyệt vời ở trên cùng: một cô gái đang ngủ sắp bị đàn hổ nuốt chửng, một vị Chúa cứu thế đáng sợ treo trên một cây thập giá cân xứng, và một bức tranh phong cảnh siêu thực với những chiếc đồng hồ tan chảy.

“Anh có nhận ra không?” Julie hỏi với một nụ cười không nén nổi. “Tranh của Salvador Dali đấy. Tất nhiên là nguyên bản.’

Nora bước vào từ ban công và khi thấy tôi đang gí mặt vào mấy bức tranh, cô liền bật cười. “Trang trí đẹp đấy chứ? Perry với tôi muốn tặng Julie bức Mona Lisa vào ngày sinh nhật vì nó làm chúng tôi nhớ đến nụ cười khẩy của cô ấy – đấy! Chính nó đấy! – nhưng đi bộ đến Paris thì xa quá. Bọn tôi đành dùng tạm phòng triển lãm ở đây vậy.”

“Nora có cả một bức tường đầy tranh của Picasso cơ,” Julie chêm vào. “Nếu còn có ai quan tâm thì chắc bọn này đã trở thành một nhóm trộm tranh huyền thoại rồi.”

Tôi cúi xuống để ngắm kĩ hơn hàng tranh màu acrylic ở dưới.

“Julie vẽ đấy,” Nora nói. “Đẹp phải không?”

Julie nhìn đi nơi khác vẻ chán ghét. “Nora bắt tôi phải treo mấy bức đó lên.”

Tôi chăm chú nhìn ngắm từng bức tranh, tìm kiếm bí mật của Julie trong những nét bút vụng về. Hai bức chỉ gồm toàn những màu sặc sỡ trát lên giấy thành một lớp dày ghồ ghề. Bức thứ ba là một bức chân dung thô sơ vẽ một người phụ nữ tóc vàng. Tôi nhìn về phía bức tường màu đen, nơi chỉ có một vật trang trí duy nhất: một bức ảnh được ghim vào tường. Nhìn giống hệt Julie, chỉ cộng thêm hai mươi nhăm năm gian khổ nữa.

Julie đưa mắt nhìn theo cái nhìn của tôi, rồi nàng và Nora liếc nhau một cái. “Là mẹ tôi đấy,” Julie nói. “Mẹ đi năm tôi mười hai tuổi.” Nàng hắng giọng rồi nhìn ra cửa sổ.

Tôi quay sang bức tường màu vàng, nổi bật hơn hẳn vì nó không được trang hoàng gì cả. Tôi chỉ vào đó và nhướng mày lên.

“Đó là… ừm… bức tường hi vọng của tôi,” nàng nói. Giọng nàng toát lên ý tự hào ngượng ngùng, làm nàng nghe trẻ hơn. Gần như có vẻ ngây thơ. “Tôi bỏ trống đấy để dành cho cái gì đó sau này.”

“Ví dụ như cái gì?”

“Tôi chưa biết. Còn tùy chuyện gì sẽ xảy ra sau này. Hy vọng là một cái gì đó vui vẻ.”

Nàng nhún vai cho qua rồi ngồi xuống góc giường, gõ gõ ngón tay lên đùi, mắt quan sát tôi. Nora ngồi xuống cạnh nàng. Trong phòng không có ghế, nên tôi đành ngồi xuống sàn. Tấm thảm chỉ còn là một bí ẩn dưới hàng lớp địa tầng được tạo nên bởi bao nhiêu thứ quần áo nhàu nhĩ.

“Vậy đấy… R.” Nora cúi về phía tôi nói. “Anh là một Xác Sống, cảm giác đó thế nào?”

“Tôi… ờ…”

“Chuyện xảy ra như thế nào? Tại sao anh lại bị biến đổi?”

“Không… nhớ.”

“Tôi không thấy có vết cắn hay vết đạn bắn hay vết thương nào cả. Chắc là do lý do tự nhiên. Không có ai ở quanh để lấy não anh chứ gì?”

Tôi nhún vai.

“Anh bao nhiêu tuổi?”

Toi nhún vai.

“Trông anh khoảng ngoài hai mươi, nhưng anh cũng có thể ngoài ba mươi. Anh có kiểu mặt ấy. Sao anh không thối rữa ra nhỉ? Thậm chí tôi còn gần như chẳng ngửi thấy mùi của anh nữa.”

“Tôi không… ờ..”

“Cơ thể anh còn hoạt động bình thường không? Chắc là không, phải không? Ý tôi là anh còn có thể, anh biết đấy..?”

“Trời đất, Nora,” Julie xen ngang, huých khuỷu tay vào hông cô bạn. “Cậu có thôi đi không? Anh ấy không phải đến đây để bị hỏi cung đâu.”

Tôi ném cho Julie một cái nhìn biết ơn.

“Nhưng tôi có một câu hỏi,” nàng nói. “Làm thế quái nào mà anh vào đây được? Vào Sân vận động ấy?”

Tôi nhún vai. “Đi… vào.”

‘Làm sao anh qua mặt lính gác được?”

“Giả làm… Người Sống.”

Nàng trố mắt nhìn tôi. “Họ cho anh vào? Ted cho anh vào?”

“Bị phân tán.”

Nàng đặt tay lên trán. “Trời. Thật là…” Nàng ngừng lại và mỉm cười kinh ngạc. “Trông anh… khá hơn đấy. Anh đã chải tóc đấy à, R?”

“Hắn mặc đồ giả trang!” Nora bật cười. “Hắn mặc đồ giả trang làm Người Sống.’

“Thật không tin nổi là cách đó lại thành công. Tôi dám cá là chuyện đó chưa xảy ra bao giờ.”

“Cậu có nghĩ hắn có lừa được mọi người không?” Nora hỏi, “Ở ngoài kia cùng với những người sống thật ấy.”

Julie ngắm nghía tôi với vẻ hồ nghi, như một nhiếp ảnh gia bắt buộc phải xem xét một người mãu mập ú. “Ờ,” nàng thừa nhận. “Tớ đoán là… cũng có thể.”

Tôi co rúm người dưới những con mắt soi mói của họ. Cuối cùng thì Julie hít một hơi và đứng dậy. “Dù sao thì anh cũng phải ở lại đây ít nhất là hết tối nay, cho đến khi chúng tôi nghĩ ra xem phải làm gì với anh. Tôi đi hâm lại ít cơm đây. Cậu có muốn ăn không, Nora?”

“Thôi, tớ vừa làm một viên Carbtein chín tiếng trước rồi.” Cô thận trọng nhìn tôi. “Anh có ờ… đói không, R?”

Tôi lắc đầu. “ Tôi… ổn.”

“Bởi vì tôi không biết chúng ta sẽ phải làm gì với chế độ ăn uống đặc biệt của anh. Ý tôi là, tôi biết anh không làm thế nào khác được, Julie đã giải thích hết rồi, nhưng chúng tôi không..”

“Thật mà…” tôi ngăn cô lại. “Tôi ổn.”

Cô có vẻ nghi ngờ. Tôi có thể tưởng tượng ra đoạn phim đang chiếu sau mắt cô. Một căn buồng tối đầy máu. Các bạn của cô hấp hối trên sàn. Tôi, bò về phía Julie với hai bàn tay nhuốm đỏ vươn ra. Có thể Julie đã thuyết phục cô rằng tôi là trường hợp đặc biệt, nhưng tôi không nên ngạc nhiên khi nhận được những cái nhìn lo ngại. Nora im lặng ngắm tôi mấy phút. Rồi cô quay đi và bắt đầu một điếu cần sa.

Khi Julie đem thức ăn về, tôi mượn thìa của nàng, xúc một thìa cơm, rồi vừa nhai vừa mỉm cười. Nó vẫn giống như vị bọt xốp như mọi khi, nhưng tôi cũng nuốt xuống được. Julie và Nora nhìn nhau, rồi nhìn tôi.

“Mùi vị thế nào?” Julie hỏi.

Tôi nhăn mặt.

“Được rồi, nhưng dù sao thì cũng đã lâu rồi anh chưa ăn ai cả. Và anh vẫn đang đi lại. Anh có nghĩ là anh sẽ có thể tự cai được… thức ăn sống không?”

Tôi cười châm biếm. “Tôi đoán là… cũng có thể.”

Nghe vậy Julie mỉm cười. Nửa là vì giọng mỉa mai bất ngờ của tôi, nửa là vì niềm hi vọng ám chỉ trong câu trả lời của tôi. Tôi chưa bao giờ thấy cả khuôn mặt nàng sáng bừng lên như thế, vì vậy tôi hi vọng tôi đã đúng. Tôi hi vọng không phải là tôi vừa mới học được cách nói dối.

Đến khoảng một giờ thì hai cô gái bắt đầu ngáp. Trong phòng khách có mấy chiếc chõng bạt, nhưng không ai muốn đặt chân ra khỏi phòng Julie cả. Cái khối vuông sơn màu sặc sỡ này giống như một hầm trú ẩn ấm áp giữa lãnh nguyên băng giá của nam cực. Nora chiếm chiếc giường. Julie và tôi nằm trên sàn. Nora lúi húi chép bài tập về nhà chừng một tiếng, rồi tắt đèn và bắt đầu ngáy nhè nhẹ như một cái cưa xích nhỏ. Julie và tôi nằm ngửa ra, đắp một cái chăn dày, dùng đống quần áo của nàng làm đệm trên mặt sàn cứng như đá. Thật là một cảm giác kì lạ khi khắp xung quanh tôi chỗ nào cũng là nàng. Mùi sự sống của nàng bám vào tất cả. Nàng ở trên người tôi, ở bên dưới tôi, và bên cạnh tôi. Như thể cả căn phòng được xây bằng mùi vị của nàng.

“R này,” nàng thì thầm, mắt nhìn lên trần. Trên đó đầy những chữ và hình vẽ nghuệch ngoạc bằng sơn lân tinh.

“Sao.”

“Tôi ghét nơi này.”

“Tôi biết.”

“Đưa tôi đến đâu dó khác đi.”

Tôi nhìn lên trần. Tôi ước mình có thể đọc được những gì nàng đã viết lên. Thay vào đó, tôi giả vờ những chữ cái là các ngôi sao, còn các từ ngữ kia là các chòm sao.

“Muốn… đi đâu?”

“Tôi không biết. Một nơi thật xa. Một lục địa xa xôi nào đó nơi những chuyện này không xảy ra. Nơi người ta sống trong hòa bình.”

Tôi im lặng.

“Một anh bạn của Perry từng là phi công… chúng ta có thể đi bằng ngôi nhà máy bay của anh ấy. Nó sẽ giống như ở trong một căn nhà di động biết bay ấy, mình muốn đi đâu cũng được!” Nàng nằm nghiêng sang bên và cười với tôi. “Anh nghĩ sao, R? Mình có thể đi đến tận đầu bên kia thế giới.”

Sự phấn khích trong giọng nói của nàng làm tôi đau nhói. Tôi hi vọng nàng không thấy được vẻ tuyệt vọng trong mắt tôi. Tôi không biết chắc, nhưng gần đây có điều gì đó trong không khí, một sự im lìm chết chóc khi tôi đi qua thành phố và khu ngoại ô, nó cho tôi biết rằng cái ngày ta có thể chạy trốn mọi rắc rối đã qua rồi. Sẽ không còn nghỉ ngơi, không còn những chuyến du lịch, không còn lánh đến một vùng nhiệt đới nào được nữa. Dịch bệnh dã lan khắp thế giới.

“Cô nói…” tôi mở lời, cố chuẩn bị để nói ra một ý nghĩ phức tạp. “Cô nói.. cái…”

“nào,” nàng động viên. “Dùng từ của anh xem nào.”

“Cô nói… máy bay… không là thế giới riêng.”

Nụ cười của nàng sững lại. “Gì cơ?”

“Không thể… bay trên… mọi rắc rối.”

Nàng nhíu mày. “Tôi đã nói thế ư?”

“Bố cô… hộp bê tông… tường và súng… Trốn chạy… không hay hơn… lẩn tránh. Có khi tệ hơn.”

Nàng nghĩ một lát. “Tôi biết,” nàng nói, và tôi thấy có lỗi vì đã làm giấc mơ chóng vánh của nàng tan biến. “Tôi biết thế. Tôi đã tự bảo mình như thế suốt bao nhiêu năm nay, rằng vẫn còn hi vọng, rằng chúng ta vẫn có thể tìm ra cách để thay đổi tình thế, vv và vv. Chỉ có điều… càng ngày chuyện đó càng khó tin hơn.”

“Tôi biết,” tôi nói, cố che giấu vết rạn trong vẻ chân thành của mình. “Nhưng không được… bỏ cuộc.”

Giọng nàng trở nên u sầu. nàng đã phát hiện ra lời phỉnh phờ của tôi. “Sao tự dưng anh lạc quan thế? Anh đang nghĩ gì vậy?”

Tôi không nói gì, nhưng nàng đọc được khuôn mặt tôi như đọc tít báo trên trang nhất, những tít báo về bom nguyên tử và tàu Titanic và tất cả các cuộc đại chiến thế giới với phông chữ ngày một nhỏ hơn.

“Không còn nơi nào khác, phải không,” nàng nói.

Tôi lắc đầu khẽ đến mức gần như không nhìn thấy.

“Toàn bộ thế giới,” nàng nói. “Anh nghĩ tất cả đã chết? Tất cả đã bị tàn phá?”

“Phải.”

“Làm sao anh biết được?”

“Tôi không biết. Nhưng tôi… cảm thấy.”

Nàng thở ra một hơi dài và nhìn lên những chiết máy bay đồ chơi lơ lửng trên đầu chúng tôi. “Thế chúng ta phải làm gì bây giờ?”

“Phải… sửa lại.”

“Sửa cái gì?”

“Không biết… Tất cả mọi thứ.”

Nàng chống khuỷu tay nhỏm dậy. “Anh đang nói cái gì thế?” Nàng không hạ thấp giọng xuống nữa. Nora cựa mình và thôi ngáy. “Sửa tất cả mọi thứ ư?” Julie hỏi, mắt lóe lên trong bóng tói. “Chính xác là chúng ta phải làm thế nào bây giờ? Nếu anh có phát kiến vĩ đại nào thì hãy chia sẻ đi, vì đâu phải là tôi không nghĩ về chuyện này suốt ngày. Đâu phải là nó đã không đốt cháy tâm trí tôi hàng sáng và hàng đêm kể từ khi mẹ tôi đi. Làm sao chúng ta sửa được mọi thứ? Tất cả đều đã quá đổ vỡ. Tất cả mọi người đều đang chết, chết đi chết lại bao nhiêu lần, mỗi lần lại khủng khiếp, đáng sợ hơn. Chúng ta biết phải làm gì bây giờ? Anh có biết cái gì đã gây ra chuyện này không? Bệnh dịch ấy?”

Tôi ngần ngừ. “Không.”

“Thế thì sao anh biết phải làm gì được? Tôi muốn biết, R ạ. Làm sao chúng ta có thể sửa lại nó được?”

Tôi vẫn nhìn lên trần nhà. Tôi nhìn những chòm sao từ ngữ sáng xanh lấp lánh giữa không trung xa vời. Trong khi tôi nằm đó, để cho trí não mình vươn tới tận những thiên đường tưởng tượng đấy, hai ngôi sao bắt đầu thay đổi. Chúng xoay tròn, hiện rõ dần, và hình thù của chúng trở nên dễ nhận hơn. Chúng biến thành… các chữ cái.

T

H

“Th…” tôi thì thầm.

“Cái gì cơ?”

“ Thờ…” tôi nhắc lại, cố phát âm cho rõ. Nó là một âm thanh. Nó là một âm tiết. Chòm sao mờ nhòa kia đang biến thành một từ. “Cái gì… kia?” Tôi hỏi, chỉ lên trần nhà.

“Cái gì? Cái câu trích dẫn ấy á?”

Tôi đứng dậy và chỉ vào câu đó. “Cái này.”

“Là một câu trong bài ‘Imagine’. Bài hát của John Lennon đấy.”

“Câu.. nào?”

“Cũng dễ thôi nếu bạn thử.”

Tôi đứng đó một phút, ngước nhìn lên như một nhà du hành mạo hiểm khám phá vũ trụ. Rồi tôi lại nằm xuống và bắt tay ra sau đầu, mắt vẫn mở to. Tôi không có câu trả lời mà nàng dang tìm kiếm, nhưng tôi cảm nhận được sự hiện diện của chúng. Những đốm sáng lung linh trong bóng tối xa xăm.

BƯỚC CHÂN NHẸ NHÀNG. Bùn dưới gót ủng. Đừng nhìn vào đâu cả. Những câu khẩu hiệu kì lạ lặp đi lặp lại trong đầu tôi. Như tiếng lầm bầm của những lão già râu ria xồm xoàm vọng ra từ những ngõ tối. Mày đi đâu vậy, Pery? Đồ ngốc. Đồ óc bã đậu. Đi đâu? Mỗi ngày vũ trụ lại rộng thêm ra, tối hơn, lạnh đi. Tôi dừng lại trước một cánh cửa màu đen. Một cô gái sống trong ngôi nhà kim loại này. Tôi có yêu nàng không? Tôi không biết nữa. Nhưng nàng là tất cả những gì còn lại. Vầng mặt trời đỏ rực cuối cùng trong một khoảng không gian bao la không ngừng giãn nở. Tôi bước vào nhà và thấy nàng đang ngồi trên cầu thang, hai tay ôm gối. Nàng đặt một ngón tay lên môi. “Bố,” nàng thì thầm.

Tôi ngước lên cầu thang nhìn về phía buồng ngủ của vị tướng. Tôi nghe thấy giọng ông lè nhè trong bóng tối lờ mờ.

“Bức ảnh này, Julie. Công viên nước, con có nhớ công viên nước không? Phải kéo lên mười xô nước mới đủ cho một lần trượt. Hai mươi phút vất vả chỉ để cho mười giây sung sướng. Nhưng hồi đấy thấy cũng đáng, phải không? Bố đã thấy rất vui khi thấy mặt con lao ra khỏi dường ống. Ngay từ khi đó con đã giống hệt mẹ rồi.”

Julie lặng lẽ đứng dậy, đi ra cửa trước.

“Con giống hệt mẹ, Julie ạ. Con chẳng giống bố chút nào, con chỉ giống mẹ thôi. Sao mẹ lại có thể làm thế?”

Tôi mở cửa và lùi ra ngoài. Julie đi theo tôi, bước chân nhẹ nhàng không một tiếng động.

“Sao mẹ con lại có thể mềm yếu như thế? Ông nói bằng giọng như thép tan chảy. “Sao mẹ có thể để chúng ta lại đây?”

Chúng tôi im lặng bước đi. Làn mưa lâm thâm đọng lên tóc và chúng tôi lắc đầu rũ nước như những con chó hoang. Chúng tôi đến nhà đại tá Rosso. Bà Rosso ra mở cửa, nhìn Julie một cái, rồi ôm lấy nàng. Chúng tôi bước vào căn nhà ấm áp.

Tôi thấy đại tá Rosso đang ngồi trong phòng khách nhấm nháp tách cà phê, giương mục kính đọc một quyển sách cũ ố nước. Trong khi Julie và bà Rosso khe khẽ trò chuyện với nhau trong bếp, tôi ngồi xuống đối diện với vị đại tá.

“Perry,” ông chào.

“Chào đại tá ạ.”

“Cháu thế nào?”

“Cháu còn sống.”

“Một khởi đầu tốt. Cháu đã ổn định ở nhà mồ côi rồi chứ?”

“Cháu ghét nó.”

Đại tá Rosso im lặng hồi lâu. “Cháu đang băn khoăn điều gì à?”

Tôi cố tìm lời. Hình như tôi đã quên mất phần lớn vốn từ của mình. Mãi rồi tôi mới khẽ nói, “Bố đã nói dối cháu.”

“Sao lại thế?”

“Bố nói chúng ta đang sửa lại mọi thứ, và nếu chúng ta không bỏ cuộc thì tất cả sẽ ổn hết.”

“Bố cháu tin như vậy. Và ta cũng thế.”

“Nhưng rồi bố cháu đã chết.” Giọng tôi run run, và tôi gắng sức bắt nó rắn rỏi trở lại. “Và đó là một cái chết vô nghĩa. Không có chiến đấu, không có sự hi sinh cao cả nào cả, chỉ là một tai nạn lao động ngu ngốc có thể xảy ra với bất kì ai, ở bất kì đâu, vào ất kì lúc nào trong lịch sử.”

“Perry…”

“Cháu không hiểu nổi, thưa đại tá. Cứu thế giới này thì có ích gì khi mà cuộc sống của chúng ta ngắn ngủi như vây? Tất cả việc làm ấy có ý nghĩa gì khi kết quả sẽ biến mất? Mà chẳng có gì báo trước? Như một hòn gạch khốn kiếp rơi lên đầu.?”

Đại tá Rosso không nói gì. Những giọng lầm rầm trong bếp trở nên rõ ràng hơn khi chúng tôi ngừng lời, vì vậy họ chuyển sang thì thầm, cố giấu vị đại tá điều mà tôi dám chắc là ông đã biết. Thế giới nhỏ bé của chúng tôi đã quá mệt mỏi để còn để tâm đến tội lỗi của những người lãnh đạo.

“Cháu muốn tham gia ban An ninh,” tôi tuyên bố.

Đại tá Rosso thở ra một hơi chậm rãi và bỏ cuốn sách xuống. “Vì sao, Perry?”

“Bởi vì đó là điều duy nhất đáng làm.”

“Ta tưởng cháu muốn viết văn chứ?”

“Đó là chuyện vô dụng.”

“Vì sao?”

“Giờ ta còn nhiều mối quan tâm lớn hơn. Tướng Grigio nói đây là những ngày cuối cùng rồi. Cháu không muốn dùng những ngày cuối cùng của mình phí thời giờ của mình viết những thứ lăng nhăng trên giấy.”

“Viết văn không chỉ là các thứ lăng nhăng trên giấy. Nó là mối liên lạc. Nó là kí ức.”

“Tất cả cái đó không còn quan trọng gì nữa. Đã quá muộn rồi.”

Ông ngắm nhìn tôi. Rồi ông cầm quyển sách lên và chìa cái bìa cho tôi. “Cháu có biết câu chuyện này không?”

“Là Gilgamesh ạ.”

“Đúng. Sử thi Gilgamesh, một trong những tác phẩm văn học đầu tiên trên thế giới. Ta có thể nói nó là cuốn tiểu thuyết đầu tay đầu tiên của nhân loại.” Đại tá Rosso lật lật những trang giấy mỏng manh ố vàng. “Tình yêu, t**h d*c, máu và nước mắt. Một hành trình tìm kiếm cuộc sống vĩnh hằng. Tìm kiếm cách trốn thoát cái chết.” Ông với tay qua bàn, đưa quyển sách cho Perry. “Nó được viết hơn bốn ngàn năm trước trên những phiến đất sét bởi những người cày cấy trong bùn và ít khi sống quá bốn mươi tuổi. Nó đã sống sót qua vô vàn cuộc chiến, thảm họa, bệnh dịch, và cho đến ngày nay vẫn tiếp tục mê hoặc chúng ta, bởi vì ta đây, giữa cảnh hoàng tàn hiện đại này, đang đọc nó.”

Tôi nhìn đại tá Rosso mà không nhìn quyển sách. Những ngón tay tôi bấm vào tấm bìa da.

“Thế giới sinh ra câu chuyện này biến mất từ lâu rồi, cư dân của nó đã chết, nhưng nó vẫn tiếp tục chạm tới thời hiện tại và tương lai, bởi vì có người quan tâm đến thế giới đó đủ để bảo tòn nó. Để viết lại nó. Để ghi nhớ nó.”

Tôi mở đến giữa sách. Các trang giấy đầy những dấu ba chấm, đánh dấu những từ và dòng bị mất, đã nát vụn và bị lịch sử quên lãng. Tôi nhìn chúng và để cho các dấu chấm tràn ngập mắt mình. “Cháu không muốn ghi nhớ,” tôi nói, và gập quyển sách lại. “Cháu muốn gia nhập ban An ninh. Cháu muốn làm những việc nguy hiểm. Cháu muốn quên đi.”

“Cháu nói vậy là có ý gì, Perry?”

“Cháu không có ý gì cả.”

“Nghe như là có đấy.”

“Không ạ.” Những cái bóng trong phòng tụ vào các nếp nhăn trên mặt chúng tôi, rút cạn màu sắc trong mắt chúng tôi. “Chẳng còn gì đáng kể để nói nữa.”

Tôi đờ đẫn cả người. Trôi nổi cùng những ý nghĩ đen tối của Perry, tôi rung động cùng những nỗi đau khổ của gã như tiếng trầm vang của tiếng chuông nhà thờ.

“Cậu có đang hoạt động không, Perry?” Tôi thì thầm vào khoảng không. “Cậu có đang đảo ngược cuộc sống của mình không?”

Suỵt, Perry nói. Đừng làm hỏng bầu không khí. Ta cần để giây phút này trôi qua.

Tôi bồng bềnh trong những giọt nước mắt bị kiềm nén của gã chờ đợi trong bóng tối mằn mặn ấy.

Ánh mặt trời buổi sáng tràn qua cửa sổ ban công phòng ngủ cúa Julie. Những nét vẽ màu xanh lân tinh đã chìm lại vào trần nhà màu trắng. Hai cô gái vẫn đang ngủ, nhưng tôi cứ nằm thức chong chong, chỉ chập chờn ngủ được mấy tiếng. Không thể nằm im được nữa, tôi chui ra khỏi chăn và co duỗi những khớp xương kẽo kẹt, để cho mặt trời rọi lên một bên mặt này, rồi bên mặt kia. Nora nói mê mấy từ chuyên ngành y tá, “phân bào có tơ” hoặc là “phân bào giảm nhiễm”, cũng có thể là “hoại tử” và tôi nhận ra cuốn sách giáo khoa đầy nếp quăn đang để mở trên bụng cô. Tôi tò mò cúi xuống, rồi cẩn thận nhấc quyển sách lên.

Tôi không đọc được tựa sách. Nhưng tôi lập tức nhận ra cái bìa. Một khuôn mặt đang ngủ bình thản chìa cái cổ hở đầy mạch máu cho người xem. Đó là cuốn sách tra cứu y khoa, Sách giải phẫu của Gray.

Lo lắng liếc qua vai, tôi cầm quyển sách nặng trịch ra ngoài hành lang và lật qua các trang. Những bức tranh phức tạp vẽ hình cơ thể, nội tạng và bộ xương của con người đều rất quen thuộc với tôi, mặc dù trong sách những thân thể này vẫn sạch trơn và hoàn hảo, các chi tiết không bị xóa nhòa bởi rác bẩn hay chất lỏng. Từng phút trôi qua trong khi tôi săm soi từng hình minh họa, bị xô đẩy bởi cảm giác tội lỗi pha lẫn với mê hoặc như chú bé Công giáo với quyển tạp chí Playboy vậy. Tất nhiên tôi không đọc về các dòng chú thích, nhưng trong khi tôi ngắm các hình vẽ, một vài từ Latin lại hiện lên trong óc tôi, có lẽ là nhớ lại từ cuộc sống trước kia của tôi, một bài giảng ở trường đại học hay một bộ phim tài liệu trên TV mà tôi đã thu thập được ở đâu đó. Những kiến thức này có vẻ thật ghê tởm trong não tôi, nhưng tôi vẫn ăn lấy chúng, giữ chặt chúng, khắc sâu chúng vào trí nhớ của mình. Tại sao tôi phải làm vậy? Tại sao tôi lại muốn biết tên và chức năng của những kết cấu đẹp đẽ mà tôi đã xâm phạm suốt bao lâu nay? Bởi vì tôi không đáng được để cho chúng vô danh. Tôi muốn nỗi đau khi biết về chúng, và qua đó cũng để biết về chính mình: chính xác tôi là ai và là cái gì. Có lẽ với con dao mổ đỏ rực được tiệt trùng bằng nước mắt ấy, tôi có thể bắt đầu khoét hết từng phần ung thối trong cơ thể mình.

Hàng giờ trôi qua. Khi tôi đã xem hết từng trang một và nặn hết từng âm tiết từ trí nhớ của mình, tôi nhẹ nhàng đặt quyển sách lại chỗ cũ trên bụng Nora và rón rén bước ra ban công, hy vọng mặt trời ấm áp sẽ phần nào xoa dịu cơn nôn nao tinh thần đang cào cấu trong tôi.

Tôi dựa người vào lan can và nhìn ngắm khung cảnh chật hẹp của thành phố nơi Julie ở. Đêm qua nó tối tăm và im lìm đến thế, vậy mà giờ lại ồn ào vầ tấp nập chẳng khác gì quảng trường Thời Đại. Tôi băn khoăn tự hỏi, mọi người đang làm gì? Sân bay của các Xác Sống có đám đông, nhưng không có hoạt động thực sự. Chúng tôi không làm gì cả, chúng tôi chỉ đợi cho mọi chuyện xảy ra. Bao nhiêu ý chí của những Người Sống gộp lại thành một hỗn hợp say sưa, và tôi đột nhiên mong được hòa nhập vào đám người kia, chạm vai và huých khuỷu tay để giành chỗ giữa những mùi mồ hôi và hơi thở đó. Nếu các câu hỏi của tôi có câu trả lời thì chắc chắn chúng phải nằm dưới kia, dưới gót chân nện rầm rập của những bàn chân bẩn thỉu ấy.

Tôi nghe thấy hai cố cái cuối cùng cũng thức giấc và đang nói chuyện nho nhỏ ở trong buồng. Tôi quay vào và luồn vào dưới chăn cạnh Julie.

“Chào buổi sáng, R,” Nora nói, có vẻ không chân thành lắm. Tôi nghĩ cô thấy việc nói chuyện với tôi như với người bình thường hẵng còn khá mới mẻ trông như thể cô muốn cười khúc khích mỗi khi thừa nhận sự có mặt của tôi. Thật là bực mình, nhưng tôi cũng hiểu được phản ứng đó. Tôi là một điều nực cười cần phải mất thời gian mới quen được.

“Chào,” Julie lên tiếng và nhìn tôi từ đầu kia của cái gối. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nàng kém xinh như thế, mắt sưng húp, tóc rối bù. Tôi tự hỏi đêm đêm nàng ngủ có ngon không, và giấc mơ của nàng thế nào. Tôi ước mình có thể bước vào chúng được như nàng bước vào giấc mơ của tôi.

Nàng nghiêng người sang bên và chống khuỷu tay lên đỡ lấy đầu. nàng hắng giọng. “Thế đấy, anh đang ở đây. Giờ thì sao?”

“Muốn được xem… thành phố.”

Nàng nhìn mặt tôi dò xét. “Vì sao?”

“Muốn xem… sống như thế nào. Người sống ấy.”

Nàng mím môi lại. “Quá nguy hiểm. Sẽ có người chú ý đến anh.”

“Thôi nào, Julie,” Nora nói. “Hắn đã đi bộ đến tận đây, cứ cho hắn đi tham quan đi. Bọn mình có thể hóa trang cho hắn để không ai nhận ra. Hắn đã qua mặt được Ted thì tớ dám chắc để hắn đi lại một chút cũng không sao đâu, nếu bọn mình cẩn thận. Anh sẽ cẩn thận chứ, phải không R?”

Tôi gật đầu, mắt vẫn nhìn Julie. Nàng im lặng một hồi lâu. Rồi nàng nằm vật ra và nhắm mắt lại, thở ra một hơi chậm rãi nghe như tiếng chấp thuận.

“Hoan hô!” Nora reo lên.

“Bọn mình có thể thử. Nhưng R này, nếu sau khi hóa trang mà trông anh vẫn không giống thì không tham quan gì hết. Và nếu tôi thấy có ai nhìn anh quá chăm chú thì cũng dừng tham quan ngay. Đồng ý chứ?”

Tôi gật đầu.

“Không được gật đầu. Nói đi.”

“Đồng ý.”

Nàng chui ra khỏi chăn và trèo lên giường. Nàng ngắm tôi từ đầu đến chân. “Được rồi,” nàng nói, tóc xù ra khắp mọi hướng. “Sửa sang cho anh nào.”

Tôi ước gì cuộc đời mình là một bộ phim, để tôi có thể dựng được một phim ngắn. Một chuỗi cảnh phim với nền là một bài nhạc Pop nhàm chán nào đó sẽ dễ chịu hơn nhiều so với hai giờ đồng hồ khốn khổ mà hai cô gái bỏ ra để biến đổi tôi, để làm tôi trở thành thứ tạm giống con người. Họ gội đầu và tỉa tóc cho tôi. Họ đánh răng tôi đến mòn một cái bàn chải mới tinh, nhưng nụ cười của tôi cũng chỉ được bằng nụ cười của một anh chàng người Anh nghiện cà phê thôi. Họ thử mặc cho tôi mấy thứ quần áo hơi nam tính của Julie, nhưng Julie bé như một con yêu tinh và tôi xé toạc áo phông, làm khuy áo bay tứ tung như một vận động viên thể hình. Cuối cùng họ đành bỏ cuộc, và tôi trần như nhộng đứng đợi trong phòng tắm trong khi họ ném bộ quần áo công sở của tôi vào máy giặt.

Trong lúc chờ đợi, tôi quyết định tắm một cái. Đây là một việc tôi đã quên từ lâu, và tôi tận hưởng nó như tận hưởng một ngụm rượu hay nụ hôn đầu tiên. Nước nóng phả lên tấm thân bị tàn phá của tôi, rửa sạch bụi đất và máu me đã bám lên trong bao nhiêu tháng hay bao nhiêu năm, một phần trong số máu me ấy là của tôi, nhưng chủ yếu là của người khác. Những chất bẩn đấy xoáy tròn đổ xuống cống, xuống đất ngầm nơi nó thuộc về. Làn da thật của tôi hiện ra, tái xám, đầy những vết cắt, vết xước và vết đạn sượt qua, nhưng giờ đã sạch sẽ.

Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy cơ thể mình.

Khi quần áo tôi đã khô và Julie đã vá lại những lỗ rách to nhất, tôi mặc đồ vào, thích thú với cảm giác sạch sẽ mới lạ. Áo sơ mi tôi không còn dính người nữa. Quần tôi cũng không còn chà xát lên da nữa.

“Ít nhất thì anh cũng nên bỏ cà vạt ra,” Nora gợi ý. “Với bộ đồ bảnh chọe như thế trông anh lỗi mốt đến mười cuộc chiến tranh đấy.”

“Không, cứ đeo nó đi,” Julie nói, nhìn mảnh vải ấy với nụ cười kì lạ. “Tôi thích cái cà vạt. Nó là thứ duy nhất giúp cho người anh không chỉ toàn một màu xám.”

“Nhưng chắc chắn nó sẽ không giúp hắn hòa nhập đâu, Jules. Cậu có nhớ mình đã bị nhìn ngó như thế nào khi bọn mình đi giày thể thao thay vì ủng lao động không?”

“Chính thế đấy. Mọi người đã biết tớ với cậu không mặc đồng phục, chừng nào R còn đi với bọn mình thì anh ấy cũng có thể mặc quần sooc thun đội mũ chóp cao mà cũng chẳng bị ai để ý.”

Nora cười. “Tớ thích ý tưởng ấy đấy.”

“Vậy là cái cà vạt lụa đỏ chói mắt được giữ lại. Julie giúp tôi thắt nó vào. Nàng chải tóc cho tôi và bôi lên một ít keo. Nora phun nước hoa đàn ông khắp người tôi.

“Eo ơi, Nora,” Julie phản đối. “Tớ ghét thứ này lắm. Và anh ấy cũng có bốc mùi đâu.”

“Cũng hơi bốc mùi một chút.”

“Ừ, bây giờ thì có bốc mùi rồi đấy.”

“Thà rằng hắn cứ bốc mùi nhà máy hóa chất còn hơn là bốc mùi xác chết, phải không? Như thế này thì lũ chó sẽ tránh xa.”

Họ bàn cãi có nên cho tôi đeo kính râm để che mắt không, nhưng rốt cuộc họ quyết định như thế là còn đáng chú ý hơn là để cặp mắt xám kì dị của tôi tự hiển hiện.

“Trông cũng không dễ nhận lắm,” Julie nói. “Chỉ cần anh đừng đấu nhãn với ai là được.”

“Anh sẽ ổn thôi,” Nora thêm vào. “Dù sao thì ở đây mọi người cũng chẳng nhìn nhau bao giờ.”

Bước cuối cùng trong kế hoạch trùng tu là trang điểm. Trong khi tôi ngồi trước gương như một nữ minh tinh Hollywood chuẩn bị cho cú quay cận cảnh, họ trát phấn cho tôi, họ bôi son cho tôi, họ tô màu cho làn da đen trắng của tôi. Khi họ làm xong, tôi trố mắt nhìn vào gương một cách kinh ngạc.

Tôi là người sống.

Tôi là một anh chàng công chức điển trai, vui vẻ, thành đạt, đang ở độ sung sức nhất, vừa rời khỏi một cuộc họp để đến phòng tập thể thao. Tôi cười phá lên. Tôi nhìn bóng mình trong gương và sự kì cục nực cười của hình ảnh ấy cứ thế trào ra.

Cười. Lại là một điều đầu tiên khác đối với tôi.

“Ôi trời…” Nora nói, lùi lại nhìn tôi, và Julie nói, “Hờ,” nàng ngoẹo đầu sang một bên. “Trông anh…”

“Trông anh nóng bỏng!” Nora buột ra. “Cho tớ mượn hắn được không, Julie? Chỉ một đêm thôi?”

“Ngậm cái mồm bậy bạ của cậu lại,” Julie vừa cười vừa ngắm tôi. Nàng chạm vào trán tôi, vào cái khe hẹp không một giọt máu nơi nàng đã từng ném con dao vào. “Chắc mình phải che chỗ đó lại. Xin lỗi nhé, R.” Nàng dán một miếng băng dính lên vết thương và nhẹ nhàng ép nó xuống. “Rồi.” Nàng lại lùi lại và ngắm tôi như một nhà họa sĩ cầu toàn, đã hài lòng nhưng vẫn còn một chút băn khoăn.

“Được… chứ?” tôi hỏi.

“Hừm,” nàng nói.

Tôi tặng nàng một nụ cười lấy lòng đẹp hết mức, môi nhệch ra.

“Ôi Chúa ơi. Nhất quyết là không được làm thế.”

“Cứ tự nhiên đi,” Nora nói. “Giả vờ như anh đang ở nhà mình, ở sân bay, xung quanh là bạn bè, nếu như anh có bạn bè.”

Tôi nhớ lại giây phút Julie đặt tên cho tôi, nhớ lại cảm giác ấm áp đã tràn lên mặt tôi lần đầu tiên khi chúng tôi chia nhau một chia bia và một đĩa đồ ăn Thái.

“Đấy, tốt hơn rồi,” Nora nói.

Julie gật đầu, áp nắm tay lên nụ cười trên miệng như để giữ một luồng cảm xúc nào đó. Một sự pha trộn giữa thích thú, tự hào và âu yếm. “Trông anh được lắm, R ạ.”

“Cảm… ơn.”

Nàng hít một hơi thật sâu vẻ quyết tâm. “Được rồi.” Nàng đội một cái mũ len lên đầu để che mớ tóc bù xù và kéo khóa chiếc áo nỉ lên. “Sẵn sàng để xem nhân loại đã làm gì kể từ khi anh rời bỏ nó chưa?”

TRONG NHỮNG NGÀY săn tìm ở thành phố trước kia, tôi thường nhìn lên tường Sân vận động và tưởng tượng ra trong đó là một thiên đường. Tôi mặc nhiên cho rằng nó là một nơi hoàn hảo, rằng mọi người sống trong đó đều sung sướng, đẹp đẽ và không thiếu thứ gì, và theo cái cách đờ đẫn, hạn hẹp của mình, tôi thấy ghen tị và càng muốn ăn thịt họ hơn. Nhưng hãy nhìn nơi này xem. Những tấm mái tôn sóng phản quang chói mắt dưới ánh nắng. Những cái chuồng đầy ruồi nhốt gia súc bị bơm đầy hooc môn và miệng không ngừng la rống. Những thứ quần áo cáu bẩn không sao giặt sạch được phơi trên những sợi dây chằng giữa các tòa nhà, phất phơ trong gió như cờ trắng đầu hàng.

“Chào mừng đến thành phố Sân vận động,” Julie nói và giang rộng hai tay. “Nơi cư trú lớn nhất của loài người ở vùng trước kia là nước Mỹ.”

Tại sao chúng ta lại ở lại? Những giọng nói thì thào sâu thẳm trong tôi trong khi Julie chỉ ra các địa giới và những nơi đáng chú ý. Thành phố là cái gì và tại sao chúng ta lại cứ tiếp tục xây chúng? Vứt bỏ đi nền văn hóa, sự thông thương, các cửa hàng mua bán và giải trí, thì cái gì còn lại? Chỉ là một dãy các con phố vô danh với những người vô danh ư?

“Có hơn hai mươi ngàn người chui rúc trong cái bể cá này,” Julie nói khi chúng tôi chen qua đám đông đặc cứng ở quảng trường trung tâm. “Chẳng mấy chốc nữa, nó sẽ đông đến mức chúng tôi sẽ dính sát vào nhau. Loài người sẽ chỉ còn là một con amip khổng lồ không trí não.”

Tại sao chúng ta không tản ra? Đi về những vùng cao và định cư ở những nơi không khí cùng nguồn nước trong lành hơn? Chúng ta cần gì ở nhau trong cái đám thân thể lúc nhúc đầy mồ hôi này?

Tôi cố giữ mắt mình luôn nhìn xuống đất, hòa vào đám đông và không thu hút sự chú ý của ai. Tôi lén nhìn những tháp canh, bể nước và những tòa nhà mới đang mọc lên dưới tia lửa điện lóe sáng của những người thợ hàn, nhưng chủ yếu tôi chỉ nhìn dưới chân mình. Mặt đường nhựa. Những góc sắc cạnh mềm đi vì bùn và phân chó.

“Chúng tôi chỉ nuôi trồng chưa được một nửa những gì chúng tôi cần để sống sót,” Julie nói khi cả bọn đi qua khu vườn, một mảng xanh thoáng qua như một giấc mơ đằng sau các bức tường trong mờ của nhà kính. “Vì vậy thức ăn thật được chia thành khẩu phần rất nhỏ, vì chúng tôi bù vào chỗ thiếu trong suất ăn bằng Carbtein.” Ba cậu thiếu niên mặc áo liền quần màu vàng bê một thùng cam ngang qua chúng tôi, và tôi nhận thấy một gã trong bọn có những vết lở loét rất lạ chạy dọc một bên mặt, những mảng nâu trũng xuống như chỗ bị nhũn trên quả táo, như thể các tế bào đã bị sụp đổ vậy. “Đấy là chưa kể đến việc mỗi tháng chúng tôi dùng hết số thuốc bằng của cả một hiệu thuốc. Các đội tìm kiếm không thể cáng đáng đủ. Chẳng mấy chốc nữa chúng tôi sẽ phải gây chiến với các vùng định cư khác vì một lọ Prozac[1] cuối cùng.”

[1] Thuốc an thần dùng để trị bệnh trầm cảm

Có phải là chỉ vì sợ hãi hay không? Những giọng nói băn khoăn. Vào những thời khắc tốt đẹp nhất chúng ta vẫn sợ, thì làm sao chúng ta có thể chống chọi được với thời khắc tồi tệ nhất? Vì vậy chúng ta đã đi tìm những bức tường cao nhất và dồn vào trốn phía sau chúng. Chúng ta cứ dồn cho tới khi chúng ta trở nên lớn nhất và mạnh nhất, bầu được những vị tướng giỏi nhất và tìm thấy nhiều vũ khí nhất, bởi vì chúng ta cho rằng những cái nhất ấy sẽ tạo nên hạnh phúc. Nhưng một điều hiển nhiên như thế sẽ không bao giờ có tác dụng.

“Tôi thấy lạ nhất một điều,” Nora nói khi lách qua cái bụng to tướng của một bà chửa vượt mặt, “là bất chấp những nhu cầu và sự khan hiếm này, người ta vẫn đẻ sòn sòn. Họ cứ liên tục tuồn ra những bản sao của chính mình chỉ vì đó là truyền thống, vì từ trước tới giờ chúng ta luôn làm vậy.”

Julie liếc nhìn Nora và mở miệng, rồi lại ngậm miệng vào.

“Và mặc dù chúng tôi đang sắp chết đói dưới một núi tã lót bẩn, thì không có ai đủ can đảm thậm chí chỉ để gợi ý là mọi người nên kế hoạch hóa ít lâu.”

“Ừ, nhưng mà…” Julie lên tiếng, giọng rụt rè khác hẳn bình thường. “Tớ không biết nữa… việc sinh con cũng rất tuyệt, cậu không thấy thế ư? Khi chúng ta vẫn tiếp tục sống và sinh trưởng mặc dù thế giới đã biến thành xác chết?”

“Chuyện loài người cứ tiếp tục quay lại thì có gì là tuyệt chứ? Bệnh mụn rộp cũng luôn quay lại đấy thôi.”

“Thôi đi Nora, cậu yêu nhân loại mà. Chỉ có Perry mới là kẻ chán đời thôi.”

Nora cười và nhún vai.

“Đây không phải là chuyện tăng dân số, mà là truyền lại lịch sử và kiến thức của con người để tất cả có thể tiếp tục. Để chúng ta không kết thúc. Tất nhiên là theo một cách nào đó thì nghe có vẻ ích kỉ thật, nhưng nếu không thế thì cuộc sống ngắn ngủi của chúng ta có ý nghĩa gì đâu?”

“Tớ đoán là đúng thế thật,” Nora nhượng bộ. “Chúng ta chẳng còn di sản nào khác trong cái thế giới sau-tất-cả-mọi-thứ này.”

“Đúng đấy. Tất cả đều đang biến dần đi. Tớ nghe nói quốc gia cuối cùng trên thế giới vừa sụp đổ hồi tháng một.”

“Thế à? Là nước nào đấy?”

“Không nhớ. Hình như là Thụy Điển thì phải.”

“Tức là quả đất đã chính thức bị xóa sổ? Buồn thật.”

“Ít nhất thì cậu vẫn còn chút di sản văn hóa chứ. Bố cậu là người Ethiopia phải không?”

“Ừ, nhưng cái đó thì có nghĩa gì với tớ chứ? Bố tớ không nhớ đất nước cũ của mình, tớ chưa bao giờ đến đó, và giờ nó không còn tồn tại nữa. Tớ chỉ còn lại nước da nâu này, mà bây giờ thì ai còn để ý màu da nữa?” Cô phẩy tay về phía mặt tôi. “Một hai năm nữa là tất cả bọn mình sẽ trở thành màu xám ngoét hết.”

Tôi tụt lại phía sau trong khi họ tiếp tục tranh luận. Tôi ngắm họ nói chuyện và đưa tay chỉ trỏ, lắng nghe giọng nói của họ mà không chú ý xem họ đang nói cái gì.

Chúng ta còn lại những gì? Những hồn ma rên rỉ, lùi dần vào bóng tối trong tiềm thức của tôi. Không quốc gia, không văn hóa, không chiến tranh, nhưng cũng không có hòa bình. Cái gì nằm trong thâm tâm chúng ta? Cái gì vẫn còn vặn vẹo trong từng khúc xương khi tất cả những thứ khác đã bị lột bỏ?

Chiều muộn hôm đó, chúng tôi đến con đường trước kia có tên là phố Ngọc. Ngôi trường đứng đợi chúng tôi ở cuối phố, dáng bè bè đầy tự đắc, và tôi thấy bụng mình thắt lại. Julie ngần ngừ ở ngã tư, nhìn về phía những ô cửa sáng đèn của trường vẻ trầm tư. “Đó là chỗ huấn luyện,” nàng nói. “Nhưng anh không muốn nhìn thấy trong đó đâu. Đi tiếp thôi.”

Tôi nhẹ người đi theo nàng rời khỏi con đường tối tăm đó, nhưng vừa đi tôi vừa nhìn kĩ tấm bển tên phố mới sơn xanh. Tôi dám chắc chữ cái đàu tiên là chữ J.

“Phố ấy… tên gì?” Tôi chỉ tấm biển nói.

Julie mỉm cười. “Thì là phố Julie chứ còn gì nữa.”

“Trước kia nó là hình một viên kim cương hay đại loại như thế.” Nora nói, “nhưng bố cô ấy đặt nó theo tên con gái khi xây trường. Dễ thương nhỉ?”

“Đúng là dễ thương thật,” Julie thừa nhận. “Thỉnh thoảng bố tôi cũng có những cử chỉ như thế.’

Nàng dẫn chúng tôi đi vòng quanh tường đến một đường hầm rộng, tối, đối diện cổng chính. Tôi nhận ra đây là đường hầm mà các đội bóng thường đi qua để kiêu hãnh tiến vào sân vận động, từ cái hồi mà hàng ngàn người còn có thể reo hò cổ vũ cho những điều vặt vãnh như thế. Và vì đường hầm ở đầu bên kia dẫn vào thế giới của Người Sống, cũng thật hợp lí khi đường hầm này lại dẫn vào nghĩa địa.

Julie chìa thẻ căn cước cho mấy lính gác và họ cho chúng tôi đi qua cổng sau. Chúng tôi bước vào một cánh đồng trập trùng bao quanh là hàng trăm mét hàng rào dây thép. Những cây táo gai đen ngòm vặn cành vươn tới bầu trời lốm đốm màu xám vàng, đứng canh những bia mộ kiểu cổ có cả thập tự và tượng thánh. Tôi đoán chừng được lấy về từ một nhà tang lễ bỏ hoang nào đó. Vì những cái tên và ngày tháng được khắc lên đó đã bị phủ lấp những chữ tô vụng bằng sơn trắng. Những tấm bia nhìn giống hệt chữ kí trên các bức tranh tường.

“Đây là nơi chúng tôi chôn… những gì còn lại.” Julie nói. Nàng bước tới trước mấy bước trong khi tôi và Nora đứng ở ngoài cổng. Ngoài đây, với cánh cổng đóng lại sau lưng chúng tôi, những âm thanh ồn ào của sự sống đã biến mất, thay thế bởi cái tĩnh lặng khắc nghiệt của những người đã chết hẳn. Mỗi thi thể yên nghỉ ở đây đều không có đầu, bị bắn vào óc, hoặc chỉ là những mẩu xương thịt còn sót lại nhét trong một cái hộp. Tôi có thể hiểu vì sao họ lại xây Nghĩa địa ở bên ngoài Sân vận động không chỉ bởi nó chiếm nhiều đất hơn tất cả những đồng ruộng ở bên trong, mà chắc hẳn còn vì nó không có ảnh hưởng tốt đến tinh thần của mọi người. Đây là một điều nhắc nhở đáng sợ hơn nhiều so với những nghĩa địa sáng sủa của thế giới cũ, với những cái chết yên bình và requiem eternum[2]. Đây là một ý niệm về tương lai của chúng ta. Không phải là tương lai của từng cá nhân, vì cái chết của từng cá nhân chúng ta có thể chấp nhận được, mà là tương lai của loài người, của nền văn mình, của toàn bộ thế giới.

[2] Tiếng Latin, nghĩa là: yên nghỉ vĩnh hằng.

“Cậu chắc là hôm nay cậu muốn đi vào đó đấy chứ?” Nora khẽ hỏi Julie.

Julie nhìn những ngọn đồi điểm mấy ngọn cỏ màu nâu. “Ngày nào tớ chẳng đến đây. Hôm nay cũng là một ngày. Hôm nay là thứ Ba.”

“Ừ, nhưng… cậu có muốn bọn này đợi ở đây không?”

Nàng quay lại nhìn tôi và ngẫm nghĩ một lát. Rồi nàng lắc đầu. “Không. Đi nào.” Nàng bước đi và tôi bám theo. Nora theo sau cách một quãng dài, với vẻ sững sờ không thốt nổi nên lời.

Trong nghĩa địa này không có lối đi. Julie bước thẳng qua các tấm bia và ngôi mộ, nhiều cái đất hãy còn mềm và ẩm ướt. Mắt nàng tập trung vào một ngọn thác cao, trên đỉnh là một bức tượng thiên thần bằng cẩm thạch. Chúng tôi dừng lại trước ngôi mộ, tôi và Julie đứng cạnh nhau, Nora vẫn cách một quãng phía sau. Tôi cố đọc tên ngôi mộ nhưng không đọc nổi. Ngay cả những chữ cái đầu tiên tôi cũng không luận ra được.

“Đây là… mẹ tôi.” Julie nói. Hơi gió lạnh buổi tối thổi tóc bay vào mắt nàng, nhưng nàng không gạt ra. “Mẹ đi năm tôi mười hai tuổi.”

Sau lưng chúng tôi Nora có vẻ lúng túng, rồi cô bỏ đi và giả vờ ngắm các tấm bia.

“Tôi đoán là mẹ đã phát điên,” Julie nói. “Một đêm mẹ một mình chạy vào thành phố, và thế là xong. Họ tìm thấy mấy mảnh còn lại của mẹ, nhưng… trong mộ này không có gì.” Giọng nàng vẫn bình thường. Tôi chợt nhớ đến khi nàng bắt chước những Người Chết trong sân bay, cái cách nàng cường điệu hóa mọi cử động, chiếc mặt nạ mỏng tang của nàng. “Tôi đoán những cái này quả quá sức chịu đựng của mẹ, tất cả mọi thứ.” Nàng khoát tay về phía nghĩa địa và Sân vận động phía sau. “Mẹ tôi là người rất tự do tự tại, anh biết không? Một nữ thần bohemian hoang dại rực lửa. Mẹ gặp bố tôi lúc mới 19 tuổi. Kể cũng khó tin, nhưng lúc ấy bố tôi là nhạc sĩ, chơi piano trong một ban nhạc rock, chơi cũng khá giỏi. Họ lấy nhau khi còn rất trẻ, và rồi… tôi không biết nưa… thế giới sụp đổ, và bố thay đổi. Tất cả đều thay đổi.”

Tôi cố dò mắt nàng nhưng tóc nàng vẫn che khuất chúng. Tôi nghe thấy một thoáng run rẩy trong giọng nàng. “Mẹ đã cố. Cố gắng thực sự. Mẹ nỗ lực tham gia giữ gìn trật tự, hoàn thành phần việc hàng ngày được giao, rồi chỉ còn có tôi. Mẹ trút tất cả vào tôi. Bố chẳng mấy khi có nhà nên lúc nào cũng chỉ có mẹ và con nhóc này. Tôi còn nhớ hai mẹ con đã rất vui, mẹ thường dẫn tôi đến công viên nước ở…” Một tiếng nấc nhỏ bật ra khiến nàng ngạc nhiên, nghẹn ngào không nói tiếp được, và nàng đưa tay lên che miệng. Đôi mắt đằng sau những món tóc cáu bẩn nhìn tôi cầu khẩn. Tôi nhẹ nhàng gạt tóc ra khỏi nàng. Nàng tránh nhìn tôi và quay về phía ngôi mộ. “Mẹ tôi sinh ra không phải để dành cho cái nơi khốn kiếp này.” Nàng nói, giọng run run thành ra the thé. “Mẹ biết làm gì ở đây? Tất cả những thứ mang lại sự sống cho mẹ đều đã biến mất rồi. Mẹ chỉ còn một con bé mười hai tuổi ngủ ngốc răng khấp khểnh đêm đêm lại đánh thức mẹ dậy để ôm ấp xua đi một cơn ác mộng. Thảo nào mà mẹ muốn thoát ra.”

“Thôi đi,” tôi cương quyết nói, và xoay người nàng lại đối mặt với tôi. “Thôi ngay.” Nước mắt đang tràn xuống mặt nàng, những giọt nước mặn chát tiết ra qua các ống và tuyến lệ, xuyên qua những tế bào sáng rực còn phập phồng và những mô đổ ngầu. Tôi lau chúng đi và kéo nàng vào người mình. “Em… còn sống,” tôi thì thầm vào tóc nàng. “Em… đáng người ta sống vì mình.”

Tôi cảm thấy nàng run rẩy trên ngực tôi, bám chặt lên ngực tôi trong khi tay tôi vòng quanh người nàng. Không khí im lìm chỉ còn tiếng gió rít khe khẽ. Nora giờ đang nhìn về phía chúng tôi, cuốn tay qua mớ tóc xoăn. Cô bắt gặp mắt tôi và mỉm cười buồn bã, như muốn xin lỗi vì đã không cảnh báo cho tôi. Nhưng tôi không sợ những bộ xương trong tủ[3] của Julie. Tôi mong được gặp nốt những bộ xương còn lại, nhìn thẳng vào mắt chúng, và siết chặt tay chúng đến gãy.

[3] Thành ngữ chỉ những việc xấu xa hay bí mật phải che đậy

Khi nàng đã làm ướt cả áo tôi bằng đau buồn và nước mũi thì tôi nhận ra mình sắp làm thêm điều mà tôi chưa từng làm. Tôi hít một hơi và chuẩn bị hát. “Em… thật tuyệt vời..” tôi cất giọng khàn khàn, cố tìm một chút giai điệu của Siinatra. “Thật tuyệt vời… thế thôi.”

Im lặng, rồi Julie thay đổi thái độ. Tôi chợt nhận ra nàng đang cười.

“Ôi trời,” nàng khúc khích ngước lên nhìn tôi, bên trên nụ cười ấy mắt nàng vẫn còn long lanh ướt. “Nghe hay lắm, R ạ, thật đấy. Anh và Xác Sống Sinatra nên thu âm đĩa Song ca, tập 3 đi.”

Tôi húng hắng ho. “Chưa… khởi động trước.”

Nàng vén lại tóc tôi. Nàng quay nhìn ngôi mộ. Nàng thò tay sau túi lôi ra một bông hoa cúc hái ở sân bay đã héo rũ và chỉ còn bốn cánh. Nàng đặt nó lên nền đất trước tấm bia. “Xin lỗi mẹ,” nàng khẽ nói. “Con chỉ tìm được bông này thôi.” Nàng nắm lấy tay tôi. “Mẹ, đây là R. Anh ấy rất tốt, mẹ sẽ thích anh ấy cho mà xem. Hoa này cũng là của cả anh ấy nữa.”

Mặc dù ngôi mộ trống, tôi vẫn thoáng nghĩ rằng tay mẹ nàng sẽ thọc lên khỏi nền đất túm lấy cổ chân tôi. Dù sao thì tôi cũng là một tế bào trong khối u đã giết chết bà. Nhưng nếu lấy Julie làm bằng thì tôi đoán mẹ nàng sẽ tha thứ cho tôi. Những người này, những phụ nữ người Sống tuyệt đẹp này, dường như họ không liên hệ tôi với những sinh vật đang giết hết những gì họ yêu quý. Họ coi tôi là một điều ngoại lệ, và tôi thấy mình quá tầm thường so với món quà ấy. Tôi muốn làm cách nào để đáp trả lại, để xứng đáng với lòng vị tha của họ. Tôi muốn sửa lại thế giới mà tôi đã góp phần tàn phá.

Nora quay lại với chúng tôi khi chúng tôi rời khỏi mộ bà Grigio. Cô xoa vai Julie và hôn lên đầu nàng. “Cậu không sao chứ?”

Julie gật đầu. “Vẫn ổn như mọi khi.”

“Cậu có muốn nghe một tin hay không?”

“Muốn cực kì.”

“Tớ nhìn thấy một bụi hoa dại gần nhà. Chúng mọc trong một cái rãnh.”

Julie mỉm cười. nàng dụi mắt cho khô nốt những giọt lệ cuối cùng và không nói gì nữa.

Vừa đi tôi vừa ngắm nghía các tấm bia. Chúng được đặt vẹo vọ, không ra hàng lối gì, khiến nghĩa địa có vẻ hết sức cổ kính, bất chấp mấy chục ngôi mộ mới đào. Tôi nghĩ về cái chết. Tôi nghĩ cuộc sống thật ngắn ngủi biết bao khi đem so với cái chết. Tôi tự hỏi rằng nghĩa địa này sâu bao nhiêu, có bao nhiêu lớp quan tài chồng lên nhau, và bao nhiêu phần đất được tạo nên bởi thân xác thối rữa của chúng ta.

Rồi một điều gì đó cắt ngang những suy nghĩ đen tối của tôi. Tôi thấy bụng bỗng thót lại, một cảm giác kì lạ mà trong trí tưởng tượng của tôi cũng chẳng khác gì người mẹ cảm thấy thai nhi đá trong bụng. Tôi dừng bước và quay lại. Một tấm bia hình chữ nhật đơn giản dõi theo tôi từ một đỉnh đồi gần đó.

“Đợi đã,” tôi nói với hai cô gái, rồi đi lên đồi.

“Hắn làm gì thế?” Tôi nghe thấy Nora thì thào hỏi. “Có phải đó là…?”

Tôi dừng lại trước ngôi mộ, nhìn trừng trừng vào cái tên trên tấm bia. Một cảm giác nôn nao chóng mặt xuyên qua chân tôi, như thể một vực thẳm há toác đang mở ra trước mặt tôi, kéo tôi về phía nó với một sức mạnh đen tối, không sao cưỡng lại nổi. Bụng tôi lại thót lên, tôi cảm thấy cuống não mình bị giật một cái… tôi ngã xuống.

TÔI LÀ PERRY KELVIN, và đây là ngày cuối đời của tôi.

Thật là một cảm giác kỳ lạ khi thức dậy với ý nghĩ ấy. Cả đời mình tôi đã chống lại cái đồng hồ báo thức, không ngừng bấm nút “ngủ” với nỗi chán ghét bản thân mỗi lúc một dâng cao cho tới khi sự hổ thẹn đẩy tôi ngồi dậy. Chỉ trong những buổi sáng rực rỡ nhất, những ngày hiếm hoi đầy sinh lực, quyết tâm, và có lý do rõ ràng để sống, tôi mới có thể bật dậy một cách dễ dàng. Thật lạ làm sao, tôi lại có thể làm như thế vào ngày hôm nay.

Julie khẽ rên một tiếng khi tôi gỡ mình khỏi cánh tay nổi da gà của nàng và chui ra khỏi giường. Nàng quấn nửa chăn của tôi quanh mình và cuộn tròn lại áp lưng vào tường. Nàng sẽ ngủ thêm hàng giờ nữa, mơ về những phong cảnh bất tận và những tân tinh đầy màu sắc vừa đẹp đẽ vừa đáng sợ. Nếu tôi ở lại, nàng sẽ thức dậy và miêu tả chúng cho tôi. Tất cả những cốt truyện thắt nút điên rồ và những hình ảnh siêu thực ấy, vô cùng sống động đối với nàng nhưng lại chẳng có ý nghĩa gì với tôi. Đã từng có thời tôi trân trọng việc được lắng nghe nàng, khi tôi thấy những rung động trong tâm hồn nàng thật tuyệt vời, vừa cay đắng vừa ngọt ngào, nhưng giờ thì tôi không chịu nổi nữa. Tôi cúi xuống định hôn tạm biệt nàng, nhưng môi tôi cứng lại và tôi rúm người tránh xa khỏi nàng. Tôi không thể. Tôi không thể. Tôi sẽ khuỵu xuống đây mất. Tôi lùi lại và bỏ đi mà không chạm vào nàng.

Tròn hai năm trước bố tôi bị đè nát dưới bức tường mà chính ông đang xây nên, và tôi trở thành trẻ mồ côi. Tôi đã nhớ bố suốt bảy trăm ba mươi ngày, nhớ mẹ tôi còn lâu hơn thế, nhưng ngày mai tôi sẽ không nhớ ai nữa. Tôi nghĩ về điều này khi bước xuống các bậc thang xoáy ốc của trại trẻ, ngôi nhà khốn nạn chất chứa những kẻ bỏ đi, và vào thành phố. Bố, mẹ, ông, các bạn bè của tôi… ngày mai tôi sẽ không nhớ ai nữa.

Còn sớm và mặt trời chưa lên hết đỉnh núi, nhưng thành phố đã tỉnh dậy từ lâu. Các con phố đông nghẹt người lao động, các đội sửa chữa, những bà mẹ đẩy những chiếc xe cũ kỹ và các bà mẹ nuôi dắt theo hàng đàn trẻ con như dắt gia súc. Đâu đó ở xa xa ai đang chơi kèn clarinet, những nốt nhạc run rẩy tràn qua bầu không khí buổi sáng như tiếng chim, và tôi cố ngăn không cho nó lọt vào tai. Tôi không muốn nghe tiếng nhạc, tôi không muốn thấy ráng hồng của bình minh. Thế giới này là kẻ dối trá. Sự xấu xa của nó đã át hết tất cả những mẩu vụn đẹp đẽ chỉ làm nó tệ hơn mà thôi.

Tôi đi đến tòa nhà hành chính ở phố Đảo và nói với nhân viên lễ tân là tôi có buổi hẹn lúc bảy giờ với Tướng Grigio. Chị ta dẫn tôi đến văn phòng của ông rồi đóng cửa lại. Vị tướng không ngẩng lên khỏi đống giấy tờ trên bàn. Ông chỉ giơ một ngón tay lên với tôi. Tôi đứng đợi, đưa mắt nhìn vơ vẩn những thứ treo trên tường. Một bức ảnh chụp Julie. Một bức ảnh chụp mẹ Julie. Một bức ảnh đã phai màu chụp chính ông và Đại tá Rosso hồi còn trẻ, mặc quân phục Mỹ chính quy, đang hút thuốc trước một đường chân trời ngập trong biển nước của thành phố New York. Cạnh đó là một bức ảnh khác cũng chụp hai người đang hút thuốc, lần này là trước một thành London nát vụn. Rồi Paris bị bom san phẳng. Rồi Rome đang còn âm ỉ cháy.

Cuối cùng vị tướng cũng đặt giấy tờ xuống. Ông bỏ kính ra và ngắm nhìn tôi. “Cậu Kelvin,” ông nói.

“Thưa ngài.”

“Hôm nay là buổi thu gom đầu tiên của cậu với tư cách là trưởng nhóm.”

“Vâng, thưa ngài.”

“Cậu đã sẵn sàng chưa?”

Lưỡi tôi ngập ngừng một giây trong khi những hình ảnh nào là ngựa, nào là nghệ sĩ chơi cello, nào là dấu son môi đỏ thắm trên miệng ly rượu tràn qua óc tôi, cố làm tôi sẩy bước. Tôi đốt cháy chúng như đốt đống phim cũ. “Đã sẵn sàng, thưa ngài.”

“Tốt. Đây là giấy phép ra vào của cậu. Giờ cậu đến trung tâm cộng đồng gặp Đại tá Rosso để nhận danh sách nhóm.”

“Cảm ơn ngài.” Tôi cầm lấy tờ giấy và quay lưng định đi. Nhưng tôi dừng lại ở ngưỡng cửa. “Thưa ngài?” Giọng tôi hơi run run mặc dù tôi đã thề là sẽ không để chuyện đó xảy ra.

“Gì vậy, Perry?”

“Cho phép cháu được nói thoải mái ạ?”

“Cháu cứ nói đi.”

Tôi l**m đôi môi khô khốc. “Có lý do cho tất cả những việc này không ạ?”

“Cháu nói sao cơ?”

“Có lý do nào bắt chúng ta phải tiếp tục làm những việc này không ạ? Việc thu gom và… tất cả các việc khác ấy ạ?”

“Ta e là ta không hiểu câu hỏi của cháu, Perry ạ. Những gì chúng ta thu gom được đang giúp chúng ta sống sót.”

“Có phải chúng ta đang cố sống sót vì chúng ta nghĩ một ngày kia thế giới sẽ tốt đẹp hơn không ạ? Đó có phải là mục đích của chúng ta không?”

Nét mặt ông không biểu lộ điều gì. “Có thể.”

Giọng tôi nghẹn lại, không đường hoàng chút nào, nhưng tôi không còn kiểm soát được nó nữa. “Thế còn ngay bây giờ thì sao ạ? Có điều gì mà bác yêu đến mức muốn sống vì nó ngay bây giờ không ạ?”

“Perry…”

“Bác nói cho cháu biết được không ạ? Xin bác?”

Mắt ông lạnh như hai viên mã não. Một âm thanh trôi lên cổ ông như âm tiết nào đó, rồi dừng lại. Ông mím chặt môi. “Cuộc trò chuyện này không thích hợp.” Ông đặt cả hai tay lên bàn. “Cậu nên đi đi. Cậu có việc phải làm.”

Tôi khó khăn nuốt xuống. “Vâng, thưa ngài. Xin lỗi ngài.”

“Đến gặp Đại tá Rosso ở trung tâm cộng đồng để nhận danh sách nhóm.”

“Vâng, thưa ngài.”

Tôi bước qua cửa và đóng nó lại.

Trong văn phòng của Đại tá Rosso tôi cư xử một cách cực kỳ chuyên nghiệp. Tôi xin danh sách và ông giao chúng cho tôi, đưa cho tôi chiếc phong bì với vẻ tự hào nồng ấm trong cặp mắt nheo nheo đang kém dần. Ông chúc tôi may mắn và tôi cảm ơn ông, ông mời tôi đến ăn tối và tôi lịch sự từ chối. Giọng tôi không hề run. Tôi không hề mất bình tĩnh.

Khi đi qua sảnh của trung tâm cộng đồng, tôi liếc mắt về phía phòng tập thể d*c và thấy Nora đang nhìn tôi qua ô cửa sổ cao. Cô mặc quần soóc đen vừa khít và áo ba lỗ trắng, cũng như đám trẻ con dưới mười ba tuổi trên sân bóng chuyền sau lưng cô. “Đội” của Nora, một cố gắng thảm hại của cô để mỗi tuần hai lần giúp bọn trẻ quên đi thực tại. Tôi đi qua cô mà không buồn gật đầu, và khi đang đẩy cửa ra thì tôi nghe thấy tiếng giày thể thao của cô lẹp kẹp trên mặt sàn lát gạch sau lưng mình.

“Perry!”

Tôi dừng lại và để cho hai cánh cửa tự đóng vào. Tôi quay lại đối diện với cô. “Chào.”

Cô đứng trước mặt tôi, hai tay khoanh trước ngực, mắt rắn đanh. “Hôm nay là ngày trọng đại đấy nhỉ?”

“Tớ đoán vậy.”

“Cậu sẽ đi đến khu nào? Cậu đã lên kế hoạch hết rồi chứ?”

“Tòa nhà Pfizer cũ trên đại lộ 8.”

Cô gật đầu lia lịa. “Tốt, kế hoạch ổn đấy Perry ạ. Và cậu sẽ xong việc rồi về nhà vào lúc sáu giờ chứ? Vì tối nay bọn này sẽ dẫn cậu xuống Vườn Quả, nhớ đấy. Bọn này sẽ không để cậu ủ ê suốt cả ngày hôm nay như năm ngoái đâu.”

Tôi ngắm lũ trẻ trong phòng tập, chuyền – giao – đập bóng, vừa cười vừa chửi thề. “Tớ không biết có về kịp không. Vụ thu gom này có thể muộn hơn bình thường.”

Cô vẫn gật đầu. “À. Được rồi. Bởi vì tòa nhà đó đã bị nghiêng và đầy vết nứt cùng ngõ cụt và cậu phải cẩn thận hơn bình thường, đúng không?”

“Đúng”

“Được.” Cô hất hàm về phía chiếc phong bì trong tay tôi. “Cậu đã kiểm tra chưa?”

“Chưa.”

“Thế thì cậu nên kiểm tra đi, Perry.” Chân cô nhịp nhịp trên sàn cả người cô run lên vì cơn giận nén lại. “Cậu cần biết chắc là mình nắm được tiểu sử, điểm mạnh, điểm yếu của mỗi thành viên trong đội và các thứ đại loại thế. Của tôi chẳng hạn, bởi vì tôi cũng có mặt đấy.”

Mặt tôi ngớ ra. “Cái gì?”

“Đúng mà, tôi sẽ đi cùng, Rosso đã cho tôi vào nhóm hôm qua. Cậu có biết điểm mạnh và điểm yếu của tôi không? Trong chương trình của cậu có việc gì mà cậu nghĩ là sẽ quá khó với tôi không? Vì tôi không muốn làm hỏng cuộc thu gom đầu tiên với tư cách trưởng nhóm của cậu đâu.”

Tôi xé toạc chiếc phong bì và bắt đầu lướt qua những cái tên.

“Julie cũng tham gia đấy, cô ấy có bảo cậu thế không?”

Tôi trợn mắt rời khỏi tờ giấy.

“Đúng thế đấy, đồ khốn, có rắc rối gì với cậu không?” Giọng cô gằn xuống đến mức gần như vỡ òa. Những giọt lệ long lanh trong mắt cô. “Có bất kỳ vấn đề gì không?”

Tôi đẩy cửa lao vào bầu không khí se lạnh buổi sớm. Chim bay trên đầu. Những con bồ câu mắt lờ đờ, những con hải âu gào thét, những con ruồi và bọ ăn phân – khả năng bay lại được tống cho những sinh vật hèn kém nhất của Trái đất. Nếu như tôi biết bay thì sao? Cảm giác tự do hoàn hảo, không trọng lượng ấy. Không hàng rào, không tường, không ranh giới tôi sẽ bay đi khắp mọi nơi, bay qua đại dương và lục địa, núi đồi và rừng rậm và thảo nguyên bất tận, và đâu đó trên thế giới, đâu đó giữa những vẻ đẹp nguyên sơ xa vời ấy, tôi sẽ tìm ra được một lý do.

Tôi đang trôi nổi trong bóng tối của Perry. Tôi đang chìm sâu trong lòng đất. Đâu đó xa tít bên trên tôi là rễ cây, giun, và một nghĩa địa đảo ngược nơi các quan tài đánh dấu mộ phần còn các tấm bia lại bị chôn chặt xuống một khoảng không xanh biếc, che kín mọi cái tên và mọi văn bia đẹp đẽ, để tôi lại với nơi thối rữa này.

Tôi cảm thấy mặt đất quanh mình động đậy. Một bàn tay thò ra túm lấy vai tôi.

“Xin chào, thây ma.”

Chúng tôi đang ở trong chiếc 747. Đồng đồ lưu niệm của tôi đã được phân loại và xếp đặt thành từng hàng gọn ghẽ. Lối đi giữa hàng ghế được trải những tấm thảm phương Đông mềm mại. Chiếc máy quay đĩa đang khe khẽ phát ra giọng hát của Dean Martin.

“Perry?”

Gã ngồi trong khoang lái, trong ghế phi công, hai tay đặt lên bộ điều khiển. Gã đang mặc bộ đồng phục của phi công, chiếc áo sơ mi trắng loang máu. Gã mỉm cười với tôi, rồi chỉ vào cửa sổ, nơi những mảng mây đang lướt qua. “Chúng ta đã lên đến đủ độ cao. Bạn có thể đi lại trong khoang.”

Một cách chậm rãi, thận trọng, tôi đứng dậy và đi vào khoang lái với gã. Tôi lo ngại nhìn gã. Gã toét miệng cười. Tôi đưa ngón tay quệt lớp bụi quen thuộc bám trên bảng điều khiển. “Đây không phải là ký ức của cậu, phải không?”

“Không. Đây là ký ức của anh. Tôi muốn anh thoải mái.”

“Có phải tôi đang đứng trên mộ của cậu không?”

Gã nhún vai. “Chắc vậy. Tôi nghĩ trong đó chỉ có cái sọ rỗng của tôi thôi. Anh và bạn bè đã đem phần lớn xác tôi về nhà để ăn dần, nhớ không?”

Tôi mở miệng ra định xin lỗi lần nữa, nhưng gã nhắm mắt lại và gạt tôi đi. “Đừng, xin anh đấy. Chúng ta đã qua tất cả chuyện đó rồi. Hơn nữa, không hẳn là anh đã giết tôi, mà là giết Perry già hơn – khôn ngoan hơn. Tôi nghĩ giờ anh đang nói chuyện với Perry – học cấp hai, còn trẻ và lạc quan và đang viết một cuốn tiểu thuyết tên là Ma đấu Người Sói. Giờ tôi không muốn nghĩ đến chuyện chết.”

Tôi băn khoăn liếc nhìn gã. “Cậu có vẻ vui hơn nhiều so với trong ký ức của cậu.”

“Ở đây tôi có tầm nhìn xa hơn. Khó mà coi trọng cuộc sống của mình đến thế khi ta có thể thấy nó một cách toàn bộ.”

Tôi chăm chú ngắm gã. Trông gã rất giống thực, đủ cả trứng cá và các thứ. “Cậu… có phải là cậu thật không đấy?” tôi hỏi.

“Anh hỏi thế là thế nào?”

“Những lúc tôi nói chuyện với cậu từ trước đến giờ, có phải cậu chỉ là… những gì còn sót lại trong não của cậu không? Hay đó thật sự là cậu?”

Gã bật cười. “Cái đó thì có quan trọng gì?”

“Cậu là linh hồn của Perry à?”

“Có thể. Cũng gần như thế. Anh muốn gọi là gì cũng được”

“Cậu có lên… Thiên đàng không?”

Gã cười phá lên và kéo chiếc áo đẫm máu. “Ờ, không hẳn đâu. Cho dù tôi là cái gì đi chăng nữa, ‘R’ ạ, thì tôi cũng đang ở trong anh.” Gã lại cười giễu vẻ mặt của tôi. “Nghe kinh nhỉ? Nhưng Già hơn – Khôn ngoan hơn đã rời bỏ cuộc đời này một cách khá đen tối. Có lẽ đây là cơ hội để chúng ta bắt kịp hắn và giải quyết một số chuyện trước khi… anh biết đấy. Trước khi bất kỳ chuyện gì xảy ra tiếp theo.”

Tôi nhìn ra cửa sổ. Không thấy đất liền hay đại dương nào cả, chỉ những rặng núi mây mượt mà trải dài bên dưới và chất cao bên trên chúng tôi. “Ta đang đi đâu đây?”

“Tới bất kỳ nơi nào tiếp theo đây.” Gã ngước nhìn lên trời với vẻ nghiêm trang giễu cợt, rồi lại toét miệng cười. “Anh sẽ giúp tôi tới đó, và tôi sẽ giúp anh.”

Tôi thấy bụng mình thót lại khi chiếc máy bay lao qua những luồng không khí thất thường. “Sao cậu lại muốn giúp tôi? Chính tôi đã giết chết cậu cơ mà.”

“Thôi nào, R, anh vẫn chưa hiểu ra ư?” Gã tỏ ra bực bội vì câu hỏi của tôi. Gã nhìn thẳng vào mắt tôi và tôi thấy trong đó là một vẻ dữ dội nồng nhiệt. “Anh và tôi là nạn nhân của cùng một căn bệnh. Chúng ta đang chiến đấu trong cùng một cuộc chiến, chỉ có điều là tham gia vào các trận đánh khác nhau trên những mặt trận khác nhau mà thôi, và đã quá muộn để tôi tìm lý do ghét anh rồi, bởi vì chúng ta giống nhau. Linh hồn của tôi, lương tâm của anh, cái gì còn lại trong tôi đã được đan cài vào những gì còn lại trong anh, tất cả đã hòa trộn với nhau không thể tách rời được nữa.” Gã vỗ mạnh lên vai tôi đến mức gần như đau. “Chúng ta phải sát cánh bên nhau, thây ma ạ.”

Chiếc máy bay rung lên nhè nhẹ. Cần điều khiển lắc lư trước mặt Perry, nhưng gã lờ nó đi. Tôi không biết phải nói gì, nên tôi đành nói, “Được thôi.”

Gã gật đầu. “Được.”

Sàn máy bay lại khẽ rung lên, như dư chấn của một quả bom mới phát nổ ở xa.

“Thế đấy,” gã nói. “Chúa đã biến chúng ta thành đôi bạn cùng tiến. Chúng ta phải bàn bạc về bài tập của mình thôi.” Gã hít một hơi dài và nhìn tôi, ngón tay gõ gõ lên cằm. “Gần đây tôi đã nghe được rất nhiều ý nghĩ đầy cảm hứng nhảy nhót trong đầu chúng ta. Nhưng tôi không dám chắc là anh thực sự hiểu được cơn bão chúng ta đang bay vào.”

Trong khoang máy bay mấy ngọn đèn đỏ nhấp nháy bật lên. Ngoài máy bay có một tiếng quẹt dài.

“Tôi đang không hiểu cái gì?” tôi hỏi.

“Thử nghĩ chiến lược xem nào. Chúng ta đang lang thang quanh thành phố này như một chú mèo con lạc vào chuồng chó. Anh cứ nói đến chuyện thay đổi thế giới, nhưng anh chỉ biết ngồi đó l**m chân trong khi lũ chó chiến binh đang xáp lại gần. Kế hoạch là gì đây, mèo con?”

Bên ngoài, những đám mây trắng bông đã chuyển sang màu xám sắt. Đèn lập lòe, và đống đồ lưu niệm của tôi khẽ rung lên lạch cạch.

“Tôi chưa có… kế hoạch gì cả.”

“Thế thì bao giờ anh mới chịu nghĩ kế hoạch? Anh đang thay đổi, những Người Chết bạn anh đang thay đổi, thế giới đã sẵn sàng cho một phép mầu rồi. Chúng ta còn đợi gì nữa?”

Máy bay rung mạnh rồi bắt đầu bổ nhào xuống. Tôi loạng choạng ngã vào ghế phi công phụ, cảm thấy tim như đã thọt lên tận cổ. “Tôi không đợi gì cả, tôi đang hành động đấy chứ.”

“Hành động cái gì? Anh đang làm gì?”

“Tôi đang cố.” Tôi nhìn vào mắt Perry và bám chặt hai bên ghế trong khi chiếc máy bay rung lắc, rên rỉ. “Tôi muốn có nó. Tôi đang bắt mình phải quan tâm.”

Mắt Perry nheo lại và miệng gã mím chặt, nhưng gã không nói gì.

“Đó là bước thứ nhất, phải không?” tôi hét át tiếng gió và tiếng động cơ gầm rú. “Đó là nơi mọi sự phải bắt đầu.”

Chiếc máy bay tròng trành và đống đồ lưu niệm của tôi rơi xuống, làm tranh ảnh, phim, đĩa, búp bê và thư tình bay tứ tung. Trong khoang lái, thêm nhiều ngọn đèn nữa lóe sáng, và một giọng nói lách tách vang lên từ bộ đàm.

R? Xin chààààào? Anh ổn chứ?

Mặt Perry đã trở nên lạnh băng, mọi vẻ đùa cợt đã biến mất. “Nhiều điều xấu đang đến, R ạ. Một số đang đợi anh ngay bên ngoài nghĩa địa này. Anh nói đúng, muốn được thay đổi là bước thứ nhất, nhưng bước thứ hai phải là nắm lấy nó. Khi cơn lũ kéo đến, tôi không muốn anh mơ màng đi qua nó. Giờ anh còn có cả cô bé của tôi nữa đấy.”

Được rồi, anh làm tôi phát sợ lên rồi đấy. Tỉnh dậy đi!

“Tôi biết tôi không xứng với nàng,” Perry nói, giọng trầm trầm nhưng không hiểu sao tôi vẫn nghe được giữa những tiếng ồn ào khác. “Nàng đã cho tôi mọi thứ ấy vậy nhưng tôi lại nhổ vào nó. Vì thế giờ thì đến lượt anh đấy, R. Đi bảo vệ nàng đi. Nàng mềm yếu hơn anh tưởng nhiều.”

Chết tiệt, đồ khốn này! Tỉnh dậy đi không thì tôi bắn bỏ bây giờ!

Tôi gật đầu. Perry gật đầu. Rồi gã quay lại đối diện với cửa sổ và khoanh tay trước ngực trong khi cần điều khiển rung lên bần bật. Đám mây dông tách ra và chúng tôi lao xuống đất, thẳng về phía Sân vận động, và họ kia, cặp đôi khét tiếng R và J, đang ngồi trên một tấm chăn trên mái nhà ướt nước mưa. R ngước lên và nhìn thấy chúng tôi, mắt hắn mở to đúng lúc chúng tôi…

Tôi mở choàng mắt và chớp chớp mấy cái để định thần trở lại. Tôi đang đứng trước một ngôi mộ nhỏ giữa một nghĩa địa nghiệp dư. Tay Julie đang đặt trên vai tôi.

“Anh đã tỉnh rồi chứ?” nàng nói. “Chuyện quái quỷ gì vừa xảy ra thế?”

Tôi hắng giọng và nhìn quanh. “Xin lỗi. Đang mơ mộng.”

“Trời ạ, anh kỳ cục thật đấy. Đi nào, tôi không muốn ở đây nữa.” Nàng bước nhanh về phía cổng ra.

Nora và tôi theo sau. Nora đi ngang hàng với tôi, đưa mắt liếc nhìn tôi. “Mơ mộng ấy à?” cô hỏi.

Tôi gật đầu.

“Anh còn nói một mình nữa cơ.”

Tôi nhìn cô.

“Nhiều từ phức tạp ra phết. Tôi nghĩ là tôi đã nghe thấy cả từ ‘phép mầu’.”

Tôi nhún vai.

Tiếng ồn của thành phố như một dòng thác ùa vào tai chúng tôi khi những người lính gác mở cổng và chúng tôi quay lại với Sân vận động. Cổng vừa đóng lại sau lưng thì tôi lại thấy như có một đứa bé đang đạp trong bụng. Một giọng nói thì thầm, Nó đến rồi đây, R. Anh đã sẵn sàng chưa?

“Ôi tuyệt thật,” Julie lầm bầm.

Ông ấy kia rồi, đang đi vòng qua góc phố trước mặt chúng tôi: bố của Julie, Tướng Grigio. Ông bước thẳng về phía chúng tôi, kèm hai bên là hai sĩ quan gì đó, mặc dù họ không mặc quân phục chính quy. Đồng phục của họ bao gồm áo và quần lao động màu xám nhạt, không có trang trí hay phù hiệu cấp bậc gì, chỉ toàn túi và các móc để treo dụng cụ và thẻ căn cước ép plastic. Trong bao súng ở thắt lưng họ, súng nòng lớn lấp lánh ánh mờ đục.

“Bình tĩnh nhé, R,” Julie thì thào. “Đừng nói gì cả, cứ, ờ… giả vờ như là anh rất nhát ấy.”

“Julie!” Còn một quãng xa, Tướng Grigio đã cất tiếng gọi.

“Con chào bố,” Julie nói.

Ông và hai sĩ quan tùy tùng dừng lại trước mặt chúng tôi. Ông khẽ bóp vai Julie. “Con thế nào.”

“Ổn ạ. Con vừa qua thăm mẹ.”

Cơ hàm của ông giật giật, nhưng ông không trả lời. Ông nhìn Nora, gật đầu với cô, rồi nhìn tôi. Ông nhìn tôi rất kỹ. Ông lôi ra một chiếc bộ đàm. “Ted. Người đã vượt qua chỗ anh hôm qua. Anh nói là một chàng trai đeo cà vạt đỏ phải không? Người cao, gầy, da xấu?”

“Bố,” Julie nói.

Chiếc bộ đàm kêu quang quác. Tướng Grigio cất nó đi và lôi một đôi còng ngón tay ra khỏi thắt lưng. “Cậu bị bắt vì tội nhập cảnh trái phép,” ông nói như đọc thuộc lòng. Cậu sẽ bị giam ở…”

“Trời ơi, bố.” Julie bước tới và gạt tay ông sang bên. “Bố bị làm sao thế? Anh ấy không phải là kẻ xâm phạm, anh ấy từ Nhà thi đấu Goldman sang chơi mà. Và anh ấy đã suýt chết trên đường đến đây nên bố tha cho anh ấy mấy vụ pháp luật đi được không?”

“Cậu ta là ai?” vị tướng gặng hỏi.

Julie nhích lên phía trước tôi như muốn ngăn tôi trả lời. “Tên anh ấy là… ờ… Archie – là Archie, phải không?” Nàng liếc nhìn tôi và tôi gật đầu. “Anh ấy là bạn trai mới của Nora. Mãi hôm nay con mới được gặp đấy.”

Nora cười và siết chặt cánh tay tôi. “Bác có tin được là anh ấy bảnh bao đến thế không? Cháu còn không nghĩ là con trai thời nay còn biết cách đeo cà vạt nữa cơ.”

Tướng Grigio ngần ngừ, rồi cất đôi còng đi và nặn ra một nụ cười miễn cưỡng. “Rất vui được gặp cậu, Archie. Tất nhiên cậu biết là nếu cậu muốn ở lại quá ba ngày thì cậu sẽ phải đăng ký với nhân viên nhập cư của chúng tôi.”

Tôi gật đầu và cố tránh không nhìn vào mắt ông, nhưng tôi không thể rời mắt khỏi mặt ông. Mặc dù bữa tối căng thẳng tôi nhìn thấy trong ảo ảnh ký ức nọ chắc chắn mới xảy ra cách đây vài năm, nhưng giờ trông ông già hơn cả chục tuổi. Da ông mỏng và khô như giấy. Đôi lưỡng quyền của ông nhô ra. Trên trán ông mạch máu nổi lên xanh lét.

Một trong hai sĩ quan đi cùng ông hắng giọng. “Xin chia buồn về chuyện Perry, cô Cabernet ạ. Chúng ta sẽ rất nhớ cậu ấy.” Đại tá Rosso già hơn Grigio nhưng tuổi già đã thân thiện hơn với ông. Ông dáng thấp, mập, với đôi tay khỏe mạnh và l*ng ngực vạm vỡ bên trên cái bụng phệ không tránh khỏi của các ông già. Mái tóc mỏng của ông chỉ còn lại mấy sợi bạc trắng, và đôi mắt xanh thì ướt rượt sau cặp kính dày cộp. Julie tặng cho ông một nụ cười khá thành thực.

“Cảm ơn bác Rosy. Cháu cũng thế.”

Câu chuyện của họ nghe thì bình thường nhưng lại có vẻ giả tạo, như chỉ khoát mái chèo bên trên những luồng chảy ngầm sâu hoắm. Tôi đoán là họ đã cùng nhau than khóc một cách kém máy móc thế này hơn nhiều, cách xa cái nhìn nhiễu sự của Grigio. “Chúng tôi rất biết ơn sự chia buồn của ông, Đại tá Rosso,” ông nói. “Nhưng tôi xin cảm ơn ông nếu ông đừng thay tên họ của chúng tôi khi nói chuyện với con gái tôi, cho dù nó đã ‘sửa sang’ cái tên ấy như thế nào đi chăng nữa.”

Ông già kia đứng thẳng người lên. “Xin ngài tha lỗi. Tôi không có ý gì.”

“Chỉ là biệt danh thôi ạ,” Nora nói. “Cháu với Perry nghĩ cô ấy giống rượu vang đỏ[1] hơn là…”

[1] Pinot Grigio là tên một giống nho dùng làm rượu vang trắng, Cabernet Sauvignon là tên giống nho dùng làm rượu vang đỏ.

Cô lúng túng ngừng lại dưới cái nhìn của Grigio. Ông chầm chậm lướt mắt sang tôi. Tôi lại tránh mắt ông cho tới khi ông thả cho tôi đi. “Chúng ta phải đi đây,” ông nói vu vơ. “Rất vui được gặp cậu, Archie. Julie, bố phải họp hết tối nay rồi đến sáng sẽ sang Goldman để bàn về vụ liên kết hai nơi. Vài ngày nữa bố sẽ về.”

Julie gật đầu. Không nói thêm một lời, vị tướng cùng các sĩ quan của ông quay đi. Julie nhìn xuống đất vẻ xa vắng. Sau một hồi lâu, Nora phá vỡ sự im lặng. “Sợ thật đấy.”

“Đến Vườn Quả đi,” Julie khẽ nói. “Tớ cần làm một ly.”

Tôi vẫn đang ngó xuống cuối phố, nhìn theo cha nàng trong khi ông nhỏ dần lại đằng xa. Ngay trước khi rẽ qua góc quanh, ông quay lại nhìn tôi, và tôi nổi da gà. Liệu trận lũ của Perry sẽ là làn nước nhẹ nhàng sạch trong, hay nó sẽ là một trận lũ kiểu khác? Tôi cảm thấy một sự chuyển động dưới chân mình. Một đợt xung chấn nhè nhẹ, như thể xương của mỗi người đàn ông và đàn bà đã được chôn từ bao đời nay đang rung động trong lòng đất. Đập vỡ nền đá. Khuấy đảo dung nham.

VƯỜN QUẢ hóa ra không thuộc vào hệ thống trồng trọt của Sân vận động. Nó là quán rượu duy nhất của nơi này, hay ít ra là thứ gần với quán rượu nhất mà họ có thể có được giữa thành trì cấm rượu mới này. Để đến được nó, chúng tôi phải khổ sở bò dọc theo những con phố như trong tranh Escher[1] của Sân vận động. Trước tiên, chúng tôi trèo bốn tầng thang gác trong một tòa nhà xiêu vẹo trong khi những người trong nhà lườm nguýt chúng tôi qua cửa căn hộ của họ. Tiếp theo là vượt qua quãng đường chóng mặt đến căn nhà đối diện – đám con trai ở dưới đất cứ tìm cách nhòm lên váy Nora trong khi chúng tôi loạng choạng bước trên một lối đi căng bằng lưới thép giữa cột chống của hai tòa tháp. Sau khi vào được căn nhà thứ hai rồi, chúng tôi lại trèo thêm ba cầu thang nữa thì mới đến được một ban công thoáng đãng nằm cao bên trên phố phường. Tiếng ồn ào của đám đông vang lên qua cánh cửa ở đầu bên kia: một tấm ván sồi rộng vẽ hình một cái cây màu vàng.

[1] M.C.Escher (1898-1972), nghệ sĩ đồ họa người Hà Lan, được biết đến với những tác phẩm vẽ những kiến trúc bất khả thi, khám phá về chiều vô tận, v.v.

Tôi vụng về chạy lên trước Julie để mở cửa cho nàng. Nora toét miệng cười và Julie đảo mắt. Họ bước vào trong và tôi đi theo sau.

Trong quán đông chật người, nhưng không khí lại trầm lắng một cách kỳ lạ. Không có ai hò hét, đập tay, không có gã say nào lè nhè hỏi xin số điện thoại. Mặc dù vị trí của quán ít người biết và bí mật như một quán rượu lậu, Vườn Quả lại không bán rượu.

“Tôi hỏi nhé,” Julie nói trong khi chúng tôi chen qua đám đông lịch sự, “có điều gì ngớ ngẩn hơn là một đám cựu chiến binh và công nhân xây dựng đến uống cho quên sầu ở một quán nước ngọt khốn kiếp không? Ít nhất thì nó cũng cho phép người ta tự đem rượu đến.”

Vườn Quả là tòa nhà đầu tiên tôi thấy trong thành phố này có chút nét đặc sắc. Những đồ linh tinh thường thấy trong quán rượu đều có ở đây: bia ném phi tiêu, bàn bi – a, ti vi màn hình phẳng phát các trận bóng bầu d*c. Mới đầu tôi rất kinh ngạc khi thấy chúng – ngành giải trí vẫn còn tồn tại ư? Ngoài kia vẫn có những người chơi các trò vô bổ này bất chấp thời cuộc ư? Nhưng rồi, vào hiệp thứ ba được khoảng mười phút thì hình ảnh trên ti vi trở nên méo mó như trên băng video và chuyển sang một trận đấu khác, hai đội và tỉ số thay đổi ngay giữa một cú chặn bóng. Năm phút sau chúng lại chuyển, hình chỉ hơi rung rung một chút để đánh dấu chỗ nối. Hình như không có fan thể thao nào để ý cả. Họ theo dõi những trận đấu bị cắt xén và bật đi bật lại không ngừng này với cặp mắt đờ đẫn trong lúc nhâm nhi ly nước như những diễn viên đang đóng lại một cảnh trong lịch sử.

Một số khách hàng thấy tôi trố mắt nhìn họ, và tôi vội quay đi. Nhưng rồi tôi lại quay lại. Có điều gì đó trong cảnh tượng này đang xuyên thấu vào đầu tôi. Một ý nghĩ đang hình thành như bóng ma trên tấm ảnh chụp lấy ngay.

“Ba nước bưởi,” Julie nói với người phục vụ quầy, anh ta có vẻ hơi ngường ngượng trong lúc chuẩn bị đồ uống. Chúng tôi ngồi xuống ghế và hai cô gái bắt đầu nói chuyện. Giọng nói trầm bổng của họ thay thế tiếng nhạc rock inh ỏi trên máy hát, nhưng rồi ngay cả giọng họ cũng nhòe đi thành một tiếng lầm bầm không rõ. Tôi nhìn các màn hình ti vi. Tôi nhìn những người khác. Tôi có thể thấy xương của họ hằn lên dưới các múi cơ. Những đốt xương nhô lên dưới lớp da căng. Tôi nhìn thấy khung xương của họ, và cái ý tưởng đang hình thành trong óc tôi hóa ra lại là một điều tôi không hề ngờ tới: đây là một bản thiết kế của bọn Xương Khô. Một các nhìn thoáng qua vào bộ não khô đét, méo mó của chúng.

Vũ trụ đang thu hẹp lại. Mọi ký ức và mọi tiềm năng đang co bóp dần thành những điểm nhỏ nhất cho tới khi da thịt của chúng rữa đi hết. Tồn tại trong điểm kỳ dị này, bị mắc kẹt trong tình trạng vĩnh hằng không bao giờ thay – đổi đó là thế giới của bọn Xương Khô. Chúng là những bức ảnh thẻ đờ đẫn, bị đông cứng vào đúng cái lúc chúng từ bỏ nhân tính của mình. Cái giây phút tuyệt vọng khi chúng cắt bỏ sợi dây cuối cùng để mình rơi xuống vực thẳm. Giờ thì chẳng còn lại điều gì. Không ý nghĩ, không tình cảm, không quá khứ, không tương lai. Không còn gì tồn tại ngoài cái nhu cầu điên cuồng là phải giữ cho mọi việc luôn như vậy, như mọi việc vốn đã thế. Chúng phải bám trụ lấy những thanh ray của đường vòng, nếu không chúng sẽ bị lấn át, bị thiêu cháy và nuốt chửng bởi những màu sắc, âm thanh, và bầu trời rộng mở.

Và ý nghĩ nọ âm ỉ trong đầu tôi, thì thầm qua các dây thần kinh của tôi như những giọng nói truyền qua dây điện thoại: giả sử chúng ta có thể làm chúng trật bánh thì sao? Chúng tôi đã phá vỡ cấu trúc của chúng đến mức khiến chúng giận dữ mù quáng. Giả sử chúng tôi có thể tạo ra một thay đổi sâu sắc, mới mẻ và kinh ngạc đến nỗi chúng sẽ sụp đổ? Đầu hàng? Vỡ vụn thành bụi cát và bị gió cuốn ra khỏi nơi này?

“R,” Julie chọc chọc tay tôi gọi. “Anh đâu mất rồi? Lại mơ mộng à?”

Tôi cười và nhún vai. Một lần nữa vốn từ của tôi lại không đủ cho tôi thốt ra điều mình muốn. Tôi phải sớm tìm ra cách làm cho nàng hiểu suy nghĩ của tôi. Cái điều tôi định làm đây, tôi biết mình sẽ không thể đơn thương độc mã thực hiện được.

Người phục vụ quay lại mang theo đồ uống của chúng tôi. Julie cười với tôi và Nora trong lúc chúng tôi ngắm ba ly nước màu vàng nhạt. “Cậu có nhớ hồi bé thì nước bưởi nguyên chất là thứ đồ uống ngầu nhất không? Giống như là rượu whiskey dành cho trẻ con ấy?”

“Ừ,” Nora bật cười. “Nước táo với nước Capri Sun, đấy là dành cho lũ õng ẹo.”

Julie nâng cốc. “Mừng Archie, anh bạn mới của chúng ta.”

Tôi nâng ly nước của mình lên cách mặt quầy chừng hai phân và hai cô gái cụng ly của họ vào đó. Chúng tôi uống. Tôi không nếm thấy vị của nó, nhưng nước chua lọt vào những vết thương cũ trong má tôi, những vết cắt mà tôi không nhớ, làm miệng tôi xót điếng.

Julie gọi một chầu nữa, và khi người phục vụ đem nước đến, nàng xốc cái túi dết lên vai và ôm lấy cả ba ly nước. Nàng cúi xuống nháy mắt với tôi và Nora. “Tớ quay lại ngay.” Tay cầm ly, nàng biến vào buồng vệ sinh.

“Cô… ấy làm gì thế?” tôi hỏi Nora.

“Chịu. Ăn trộm nước của bọn mình chắc?”

Chúng tôi ngồi im ngượng nghịu, hai người quen sơ sơ thiếu vắng mối nối là sự hiện diện của Julie. Sau mấy phút, Nora ngả người về phía tôi và thì thầm. “Anh biết tại sao cô ấy lại bảo anh là bạn trai của tôi chứ?”

Tôi nhún một bên vai. “Biết.”

“Chẳng có ý gì đâu, cô ấy chỉ muốn để mọi người không chú ý đến anh thôi. Nếu nói anh là bạn trai của cô ấy, hay bạn của cô ấy, hay bất kỳ cái gì liên quan đến cô ấy thì ông Grigio sẽ hành anh thôi rồi. Và tất nhiên nếu ông ấy thực sự nhìn anh thì… lớp trang điểm không được hoàn hảo lắm.”

“Tôi… hiểu mà.”

“Mà này, nói để anh biết nhé? Việc cô ấy dẫn anh đến thăm mộ mẹ là to chuyện lắm đấy.”

Tôi nhướng mày lên.

“Cô ấy không bao giờ kể cho ai nghe chuyện đó. Thậm chí cả với Perry mà cũng phải mất gần ba năm cô ấy mới kể hết sự tình. Tôi không biết chắc cái đó có nghĩa gì với cô ấy nhưng… nó rất khác.”

Tôi nhìn chằm chằm xuống quầy, ngượng chín mặt. Một nụ cười âu yếm kỳ lạ nở trên mặt Nora. “Anh có biết là anh hơi giống Perry không?”

Tôi gồng người lên. Tôi bắt đầu thấy cảm giác hối hận nóng bỏng lại đang trào lên trong họng.

“Tôi không biết cụ thể là gì, ý tôi là rõ ràng anh không phải cái kiểu chém gió như cậu ấy, nhưng anh có một chút… linh lợi giống như cậu ấy hồi trước.”

Tôi nên khâu kín miệng mình lại. Sự thành thực là một thôi thúc đã khiến tôi gặp rắc rối nhiều lần. Nhưng tôi không thể im lặng mãi được. Những lời nói thành hình và buột ra khỏi miệng tôi như một tiếng hắt hơi không thể kìm nén nổi. “Tôi giết cậu ấy. Ăn… óc cậu ấy.”

Nora mím môi và chậm rãi gật đầu. “Ờ… tôi cũng đoán thế.”

Mặt tôi ngớ ra. “Sao cơ?”

“Tôi không tận mắt chứng kiến nhưng tôi đã đoán chừng. Cũng có lý thôi.”

Tôi sững sờ nhìn cô. “Julie… biết ư?”

“Tôi không nghĩ thế. Nhưng nếu có biết thì tôi cũng nghĩ là cô ấy sẽ không sao đâu.” Cô khẽ chạm vào tay tôi đang đặt trên mặt quầy. “Anh có thể nói với cô ấy, R ạ. Tôi nghĩ cô ấy sẽ tha thứ cho anh.”

“Vì sao?”

“Vì cùng một lý do khiến tôi tha thứ cho anh.”

“Vì sao?”

“Vì đó không phải là anh. Đó là bệnh dịch.”

Tôi đợi cô nói thêm. Cô nhìn cái ti vi bên trên quầy, ánh sáng xanh của nó lập lòe trên khuôn mặt ngăm ngăm của cô. “Julie có kể cho anh nghe về cái lần Perry ngủ với một cô gái mồ côi không?”

Tôi ngần ngừ, rồi gật đầu.

“Ờ… đó là tôi đấy”

Tôi liếc mắt về phía buồng vệ sinh, nhưng Nora có vẻ không muốn che giấu gì cả. “Hồi ấy tôi mới đến đây được một tuần,” cô kể. “Còn chưa quen Julie. Tôi đã gặp cô ấy như thế đấy. Tôi ngủ với bạn trai cô ấy, và cô ấy ghét tôi, và rồi khi thời gian trôi qua, rất nhiều chuyện xảy ra, và chẳng biết thế nào mà chúng tôi lại trở thành bạn. Điên thật, phải không?” Cô dốc ngược ly nước để giọt cuối cùng rớt lên lưỡi, rồi đặt cái ly sang bên. “Điều tôi định nói là, đây là một thế giới tệ hại và có khối chuyện tệ hại xảy ra, nhưng chúng ta không phải chìm ngập trong những chuyện ấy. Mười sáu tuổi đầu, R ạ – bố mẹ tôi nghiện ma túy và đã ném tôi vào giữa một khu ổ chuột đầy Người Chết vì họ không nuôi nổi tôi nữa. Tôi đã lang thang một mình hàng năm trời trước khi tôi tìm thấy thành phố Sân vận động, và tôi không còn đủ đầu ngón tay để đếm những lần tôi đã suýt chết.” Cô giơ tay trái lên và vẫy vẫy ngón tay cụt một nửa như một cô dâu mới phô chiếc nhẫn kim cương của mình. “Ý tôi là, khi ta có những gánh nặng như thế trong đời mình, ta phải nhìn vào toàn cảnh, nếu không ta có thể chết chìm.”

Tôi nhìn vào mắt cô, nhưng như một kẻ mù chữ, tôi không thể dò nổi ý nghĩa trong lời nói của cô. “Toàn cảnh… của chuyện… tôi giết Perry… là gì?”

“Kìa, R,” cô nói, khẽ vỗ đùa vào một bên đầu tôi. Anh là Xác Sống. Anh mang dịch bệnh trong mình. Hay ít nhất là anh đã mang nó lúc anh giết Perry. Có thể giờ anh đã khác rồi, tôi rất hy vọng là thế, nhưng khi đó anh không có lựa chọn nào khác. Đây không phải là ‘tội ác’, là ‘sát nhân’, nó là một điều gì đó sâu xa hơn, không thể tránh khỏi.” Cô gõ gõ lên thái dương. “Tôi và Julie hiểu được điều đó, anh biết không? Có một câu nói của Thiền phái như thế này, ‘Không ngợi khen, không chê trách, chỉ có thế thôi.’ Chúng tôi không quan tâm đến chuyện ai đáng bị buộc tội vì một căn bệnh của loài người, chúng tôi chỉ muốn chữa khỏi nó thôi.”

Julie ra khỏi nhà vệ sinh và đặt ba ly nước xuống quầy với một nụ cười ranh mãnh. “Ngay cả nước bưởi cũng cần thêm tí chút đưa cay.”

Nora nhấp thử một ngụm và vội quay đi che miệng. “Thánh thần… thiên địa ơi!” cô ho sặc sụa. “Cậu cho vào bao nhiêu thế?”

“Chỉ mấy chai vodka con con thôi,” Julie thì thầm với vẻ trẻ thơ vô tội. “Nhờ có anh bạn Archie của chúng ta đây và Hãng hàng không Xác Sống.”

“Giỏi lắm Archie.”

Tôi lắc đầu. “Xin đừng… gọi tôi là…”

“Thôi được, được rồi,” Julie nói. “Không gọi là Archie nữa. Nhưng lần này chúng ta nâng cốc chúc mừng điều gì đây? Là rượu của anh mà, R, anh quyết định đi.”

Tôi cầm ly nước trước mặt mình. Tôi ngửi nó, tự bắt bản thân tin rằng mình có thể ngửi được những mùi khác ngoài mùi cái chết và hấp hối, rằng mình vẫn còn là con người nguyên vẹn. Một mùi cam quýt chua chua phả vào mũi tôi. Những vườn quả ở Florida sáng rực dưới ánh mặt trời. Lời chúc tụng xuất hiện trong đầu tôi nghe sến kinh khủng, nhưng tôi vẫn thốt ra. “Mừng… cuộc sống.”

Nora nén một tiếng cười. “Thật sao?”

Julie nhún vai. “Sến kinh khủng, nhưng thế thì đã sao.” Nàng nâng ly lên chạm vào ly của tôi. “Mừng cuộc sống, ngài Xác Sống ạ.”

“L’chaim![2]” Nora hét to và uống cạn ly.

[2] Tiếng chúc tụng lúc nâng cốc của người Do Thái

Julie cạn ly.

Tôi cũng cạn ly.

Vị vodka xộc vào óc tôi như một luồng đạn. Lần này nó không phải là thứ thuốc tinh thần nữa. Rượu mạnh thực sự và tôi cảm nhận được nó. Tôi đang cảm nhận được nó. Làm sao có thể như thế được?

Julie gọi một chầu nữa và ngay tức thì thêm rượu vào. Tôi những tưởng hai cô gái cũng kém sức rượu như tôi, vì ở đây rượu bị cấm, nhưng tôi chợt nhận ra chắc họ thường xuyên ghé các hàng rượu mỗi khi ra ngoài thành phố để thu gom hàng hóa. Họ nhanh chóng vượt xa tôi trong lúc tôi nhâm nhi ly rượu thứ hai, kinh ngạc với cảm giác đang truyền khắp cơ thể mình. Âm thanh của quán rượu nhòe đi và tôi chỉ ngắm Julie, tâm điểm của bức tranh mờ mịt trước mắt tôi. Nàng đang cười. Một tiếng cười thoải mái, không dè dặt mà hình như tôi chưa nghe thấy bao giờ, nàng vừa cười vừa ngả đầu về phía sau cho tiếng cười cứ tuôn ra. Nàng và Nora đang nhắc lại một kỷ niệm chung nào đó. Nàng quay sang tôi và nói một câu, mời tôi cùng chia sẻ niềm vui với một tiếng nói và một nụ cười để lộ hàm răng trắng muốt, nhưng tôi không đáp lại. Tôi cứ nhìn nàng trong lúc tay đỡ lấy cằm, khuỷu tay chống lên quầy, miệng mỉm cười.

Mãn nguyện. Cảm giác ấy là như thế này ư?

Sau khi uống hết ly rượu, tôi thấy thân dưới mình có sức ép, và tôi chợt nhận ra mình cần đi tiểu. Vì Người Chết không uống, việc đi tiểu là hết sức hiếm hoi. Tôi hy vọng là mình còn nhớ cách làm.

Tôi lảo đảo đi vào buồng vệ sinh và áp trán lên tường phía trước bồn cầu. Tôi kéo khóa quần, nhìn xuống, và trông thấy nó. Cái cơ quan huyền bí của sự sống và cái chết và những cuộc trăng gió ở-ghế-sau-xe-trong-buổi-hẹn-đầu. Nó nằm cù rũ, vô dụng, im lặng phán xét tôi vì bao lần tôi đã lạm dụng nó trước kia. Tôi nghĩ đến vợ tôi và nhân tình mới của cô ta, đập thân xác lạnh ngắt vào nhau như những miếng thịt gà trong nhà máy đóng gói. Tôi nghĩ đến những dáng người vô danh mờ nhạt trong quá khứ của mình, có lẽ giờ đã chết hẳn hoặc là Người Chết cả rồi. Rồi tôi nghĩ đến Julie nằm cuộn tròn cạnh tôi trên chiếc giường lớn. Tôi nghĩ đến thân thể nàng trong bộ lót cọc cạch đến buồn cười, hơi thở của nàng phả vào mắt tôi trong khi tôi ngắm nghía từng đường nét trên mặt nàng, tự hỏi điều bí ẩn nào nằm ở nhân của từng tế bào trong người nàng.

Trong lúc đứng đó trong buồng vệ sinh, giữa mùi hôi thối của phân và nước tiểu, tôi tự hỏi: Đã quá muộn đối với tôi chưa? Liệu tôi có thể giật được một cơ hội mới từ hàm răng nghiến mạnh của bầu trời há hoác kia không? Tôi muốn một quá khứ mới, những ký ức mới, một cái bắt tay mới với tình yêu. Tôi muốn bắt đầu tất cả mọi thứ lại từ đầu.

Khi tôi ra khỏi buồng vệ sinh thì sàn nhà đã quay cuồng. Mọi giọng nói đều nghẹt đi. Julie và Nora đang mải trò chuyện, ngả sát người vào nhau và cười. Một tên đàn ông chừng ba mươi tuổi đi đến quầy và nói một câu tục tĩu với Julie. Nora trừng mắt với hắn và vặc lại bằng câu gì đó có vẻ mỉa mai, và Julie đuổi hắn đi. Tên đàn ông nhún vai quay lại bàn bi – a nơi bạn hắn đang đợi. Julie gọi với theo bằng một câu chửi, nhưng tên đàn ông chỉ lạnh lùng nhe răng cười và đáp trả một tiếng. Julie sững người ra một lát, rồi nàng và Nora quay lưng lại với bàn bi – a, và Nora bắt đầu thì thầm vào tai Julie.

“Sao… thế?” tôi tiến lại quầy rượu hỏi. Tôi có thể cảm thấy cả hai tên bàn bi – a đang theo dõi tôi.

“Không có gì,” Julie nói, nhưng giọng nàng run run. “Ổn cả.”

“R, cho bọn tôi nói chuyện riêng một phút được không?” Nora hỏi.

Tôi nhìn đi nhìn lại hai người. Họ đợi. Tôi quay lưng và đi ra khỏi quán, với bao cảm giác lẫn lộn trong lòng. Ở ngoài ban công, tôi gục người tựa vào lan can, nhìn xuống con phố dưới mặt đất cách đến bảy tầng nhà. Phần lớn đèn trong thành phố đã tắt, nhưng những ngọn đèn đường vẫn đang lập lòe như lân tinh. Chiếc máy ghi âm mi ni của Julie nằm trong túi áo tôi trĩu nặng. Tôi lôi nó ra, nhìn chằm chằm. Tôi biết là mình không nên nhưng tôi… tôi cảm thấy như mình chỉ cần…

Tôi nhắm mắt lại, khe khẽ đảo người với một cánh tay bám lấy lan can, và tua băng ngược lại vài phút rồi nhấn nút “play”.

“… điên đến mức ấy không? Chỉ bởi vì anh ta là… cho dù anh ta là cái gì đi chăng nữa? Ý mình là, chẳng phải ‘Xác sống’ chỉ là một cái tên ngu ngốc chúng ta…”

Tôi lại nhấn nút tua. Tôi chợt nghĩ ra rằng khoảng cách giữa khúc đầu đoạn băng này và khúc cuối của đoạn băng trước đó là toàn bộ quãng thời gian tôi đã quen Julie. Tất cả những giây phút ý nghĩa trong đời tôi chỉ vừa khít trong mấy giây cuộn băng rít lên như thế.

Tôi dừng cuộn băng lại, rồi bật lên.

“… nghĩ là không ai biết, nhưng tất cả mọi người đều biết, họ chỉ sợ không dám làm gì thôi. Mà bố cũng đang ngày một tệ hơn. Tối nay bố nói là bố rất yêu mình. Thật sự nói ra những từ ấy. Nói mình thật xinh đẹp và là tất cả những gì bố yêu ở mẹ và nếu có chuyện gì xảy ra với mình thì bố sẽ phát điên. Và mình biết bố nói thực lòng, mình biết tất cả những điều đó đều có trong bố… nhưng chỉ khi nào say túy lúy không còn biết trời đất là gì nữa bố mới có thể nói ra được thì… nghe thật bệnh hoạn. Mình ghét cay ghét đắng chuyện đó.”

Một quãng im lặng kéo dài trên cuộn băng. Tôi liếc qua vai nhìn về phía cửa quán, cảm thấy vừa hổ thẹn vừa cuống quít. Tôi biết đây là những điều bí mật tôi chỉ có thể được biết sau nhiều tháng từ từ tìm hiểu, nhưng tôi không thể ngăn mình được. Tôi chỉ muốn nghe giọng nàng nói.

“Mình đã nghĩ đến chuyện báo cáo lại,” nàng tiếp tục. “Đi thẳng vào trung tâm cộng đồng và bắt bác Rosy bắt bố. Ý mình là, mình hoàn toàn ủng hộ chuyện uống rượu, mình rất thích là đằng khác, nhưng với bố… chuyện đấy lại khác hẳn. Với bố uống rượu không phải là để ăn mừng, uống rượu là một cái gì đó thật đau đớn và đáng sợ, như thể bố đang uống để quên đau, để chuẩn bị cho một ca phẫu thuật khủng khiếp kiểu thời Trung cổ ấy. Và ừ… mình biết vì sao, cũng đâu phải như mình chưa từng làm những chuyện còn tệ hơn cũng vì cùng những lý do ấy, nhưng nó thật là… nó quá…” Giọng nàng run run rồi nghẹn lại, và nàng sụt sịt thật to như tự trách mình. “Trời ơi,” nàng thì thầm. “Chết tiệt.”

Lại thêm mấy giây im lặng. Tôi nghe kỹ hơn. Rồi cửa bật mở và tôi quay ngoắt lại, ném chiếc máy ghi âm vào bóng tối. Nhưng không phải là Julie. Là hai tên bàn bi – a. Họ lao qua cửa, vừa xô đẩy nhau vừa cười qua khóe miệng trong lúc châm thuốc.

“Này,” tên đã nói chuyện với Julie lên tiếng gọi tôi, và hắn cùng bạn bắt đầu tiến về phía tôi. Hắn khá cao, đẹp trai, hai cánh tay cuồn cuộn cơ bắp đầy hình xăm: rắn, xương xẩu và biểu tượng của những ban nhạc rock đã tan rã từ lâu “Thế nào, anh bạn? Bồ mới của Nora phải không?”

Tôi ngần ngừ, rồi nhún vai. Họ cười phá lên như thể tôi vừa đùa một câu rất bậy.

“Ờ, với cô ả thì ai mà biết được, phải không?” Hắn đấm vào ngực tên bạn trong khi vẫn tiếp tục vênh vang bước về phía tôi. “Thế anh cũng quen Julie à? Anh là bạn của Julie phải không?”

Tôi gật đầu.

“Quen lâu chưa?”

Tôi nhún vai, nhưng tôi cảm thấy trong mình như có một chiếc lò xo đang nén lại.

Tên nọ dừng lại trước mặt tôi vài bước và dựa lưng vào tường, chậm rãi rít một hơi dài từ điếu thuốc lá. “Cách đây mấy năm cô nàng cũng hoang dã lắm. Tôi là thầy giáo dạy bắn súng của cô ta đấy.”

Tôi cần phải ra khỏi đây. Tôi cần quay đi ngay và rời khỏi đây.

“Cô nàng ra vẻ trinh trắng sau khi hẹn hò với thằng nhóc Kelvin đấy, nhưng trời ạ, trong khoảng một năm trước đấy thì cô nàng đúng là chín nẫu.” Làn khói thuốc hắn phả ra làm cặp mắt khô khốc của tôi cay sè. “Tờ một trăm giờ còn chẳng mua nổi một bao thuốc, nhưng với con chó cái ấy thì được khối trò.”

Tôi lao tới và dập đầu hắn vào tường. Rất dễ, tôi chỉ việc áp tay lên mặt hắn rồi đẩy tới trước, dùng phía sau sọ hắn để đấm bức tường. Tôi không biết mình có giết chết hắn hay không, nhưng tôi cũng chẳng cần. Khi bạn hắn định túm lấy tôi, tôi cũng làm như vậy với tên này, để lại hai vết lỏm trên lớp nhôm ép bên ngoài quán Vườn Quả. Cả hai tên gục xuống đất. Tôi lảo đảo đi xuống cầu thang và bước lên lối đi giữa hai tòa nhà. Một lũ nhóc đang dựa lưng vào dây cáp phì phèo hút thuốc và trố mắt nhìn tôi khi tôi lao qua chúng. Xin lỗi, tôi cố nói, nhưng không tìm ra nổi những âm tiết đó. Tôi tuột xuống bốn tầng nhà và lao ra phố Tiên hay là phố Tinkerbell hay là cái quái gì đại loại thế. Tôi chỉ muốn tránh ra những người này trong phút chốc để tập trung suy nghĩ. Tôi đói quá. Chúa ơi, tôi đói đến chết đi được.

Sau khi lang thang mấy phút, tôi đã hoàn toàn mất phương hướng và lạc đường. Một màn mưa nhẹ đang đổ xuống và tôi chỉ có một mình trên một con phố hẹp tối tăm nào đó. Nhựa đường ướt lấp lánh đen bóng dưới ngọn đèn đường xiên xẹo. Phía trước, hai lính gác đang nói chuyện dưới một khoảng sáng hình nón lâm râm mưa, dùng cái giọng hầm hè với vẻ cứng cỏi giả tạo của những chú nhóc khiếp hãi ra bộ là những người đàn ông trưởng thành.

“… suốt tuần trước ở ngoài Hành lang 2 để đổ móng. Chỉ còn cách Nhà thi đấu Goldman có hơn một cây số mà chẳng còn nhân công nữa. Grigio cứ lôi người ra khỏi ban Xây dựng để nhét vào bên An ninh.”

“Thế còn bên đội Goldman thì sao? Họ làm đến đâu rồi?”

“Goldman dở ẹc. Còn chưa ra hết cửa trước. Tao đã nghe nói là vụ liên kết này chẳng đi đến đâu cả, vì Grigio ngoại giao quá tệ. Chẳng hiểu sao lão còn muốn liên kết làm gì, cứ nhìn cái cách lão xử lý Hành lang 1 cũng đủ thấy. Nếu có nói là chính lão đã dựng lên vụ sụp nền ấy thì tao cũng chẳng ngạc nhiên.”

“Mày biết đấy là chuyện vớ vẩn mà. Đừng có đi tung tin nhảm nhí.”

“Ờ, dù thế nào thì bên Xây dựng cũng đã thối nát hết kể từ khi Kelvin bị đè. Giờ bọn tao chỉ biết đào hố rồi lấp lại thôi”

“Chó chết. Tao chẳng thà đi xây cái gì đó còn hơn là đứng đây cả đêm chơi trò làm cảnh sát. Ngoài kia có gì hay ho không?”

“Chỉ mấy tên Xác Thối lang thang mò ra khỏi rừng thôi. Păng, păng, thế là xong.”

“Không có Xương Khô à?”

“Phải đến cả năm nay tao chưa thấy con nào. Giờ chúng cứ ở lì trong tổ thôi. Cứt thật.”

“Cái gì, mày thích gặp bọn chúng à?”

“Hay hơn nhiều so với Xác Thối. Bọn chúng còn biết chạy.”

“Hay? Mày đùa đấy à? Những thứ ấy là lũ quái thai, tao còn không muốn phí đạn bắn chúng nữa cơ.”

“Có phải vì thế mà cứ hai mươi con mày mới bắn trúng có một không?”

“Nhưng nhìn chúng còn chẳng giống xác người nữa, mày hiểu không? Cứ như là người ngoài hành tinh ấy. Làm tao sởn cả gáy.”

“Ờ, đấy chắc là vì mày là thằng chết nhát.”

“Đồ chó. Tao phải đi giải quyết một cái đây.”

Tên lính biến vào bóng tối. Bạn hắn đứng dưới ngọn đèn, khép chặt chiếc áo gió quanh mình trong khi mưa đổ xuống. Tôi vẫn đi tiếp. Tôi không quan tâm tới những kẻ này. Tôi chỉ đang tìm một góc yên tĩnh nơi tôi có thể nhắm mắt vào và bình tĩnh lại. Nhưng khi tôi tiến vào quầng sáng, tên lính gác chú ý đến tôi, và tôi chợt nhận ra là có vấn đề. Tôi đang say. Những bước chân cẩn thận của tôi đã bị thay thế bởi dáng đi lảo đảo. Tôi lê bước về phía trước, đầu đảo sang hai bên.

Nhìn tôi giống… hệt như bản chất của mình.

“Dừng lại!” tên lính gác quát.

Tôi dừng lại.

Hắn bước về phía tôi. “Anh làm ơn đi vào chỗ sáng này.”

Tôi bước vào quầng sáng, đứng ở mép vòng tròn vàng rực ấy. Tôi cố đứng thật thẳng, cố không nhúc nhích. Rồi tôi nhận ra một điều nữa. Mưa đang nhỏ giọt từ tóc tôi xuống. Mưa đang chảy tràn trên mặt tôi. Mưa đang rửa sạch lớp phấn trang điểm của tôi, để lộ lớp da xám ngoét bên dưới. Tôi lảo đảo lùi lại một bước, tránh khỏi quầng sáng.

Tên lính gác chỉ còn cách tôi chừng năm bước chân. Tay hắn thủ thế trên súng. Hắn bước lại gần hơn và nheo mắt nhìn tôi. “Có phải tối nay anh đã uống rượu không?”

Tôi mở miệng ra định nói, Không, không hề, chỉ là mấy ly nước bưởi rất ngon và có lợi cho tim mạch với cô bạn tốt Julie Cabernet của tôi thôi. Nhưng tôi không thốt ra nổi những lời đó. Cái lưỡi tôi dày cộm và cứng đờ trong miệng, và tôi chỉ phát ra được một tiếng, “Ưưưưm…”

“Cái quái gì…” Mắt tên lính mở to, hắn rút đèn pin ra chĩa vào khuôn mặt chỗ xám chỗ trắng của tôi, và tôi không còn lựa chọn nào khác. Tôi chồm ra từ bóng tối và lao vào hắn, làm khẩu súng của hắn bắn đi, rồi cắn vào họng hắn. Sức sống của hắn tràn vào cơ thể và bộ óc đói khát của tôi, làm dịu nỗi đau đớn từ cơn đói ghê tởm của tôi. Tôi bắt đầu xé thịt hắn, nhai những bó cơ tam giác và cơ bụng mềm dịu trong lúc máu vẫn còn đang bơm qua chúng – nhưng rồi tôi dừng lại.

Julie đứng ở ngưỡng cửa buồng ngủ, ngắm nhìn tôi với nụ cười rụt rè.

Tôi nhắm nghiền mắt và nghiến chặt răng. Không, tôi gầm gừ trong đầu. Không!

Tôi ném cái xác xuống đất và lùi ra xa. Giờ tôi đã hiểu ra rằng mình có sự lựa chọn, và tôi chọn sự thay đổi cho dù phải trả giá cao đến thế nào. Nếu tôi là một cành đang mọc trên Cây Cái Chết thì tôi sẽ giũ bỏ hết lá. Để giết tận gốc cái cây ấy thì dù có phải nhịn đói cho tới chết, tôi cũng sẵn sàng.

Bào thai trong bụng tôi lại đá, và tôi nghe thấy giọng nói của Perry, nhẹ nhàng và đầy khích lệ. Anh sẽ không chết đói đâu, R. Trong quãng đời ngắn ngủi của mình tôi đã lựa chọn rất nhiều điều chỉ bởi vì tôi nghĩ mình bắt buộc phải làm thế, nhưng bố tôi đã đúng: không có luật lệ cụ thể nào cho thế giới cả. Nếu có thì chính chúng ta là người tạo ra chúng. Chúng ta có thể thay đổi chúng bất cứ khi nào chúng ta muốn.

Tôi nhổ miếng thịt trong miệng ra và lau sạch máu trên mặt. Perry lại đá vào bụng tôi, và tôi nôn thốc nôn tháo. Tôi gập người xuống và nôn sạch hết. Thịt, máu, rượu vodka. Ngay khi đứng lên và lau miệng, tôi thấy tỉnh táo trở lại. Cảm giác lơ mơ đã biến mất. Đầu tôi sáng sủa như một chiếc đĩa hát mới vậy.

Người tên lính bắt đầu giật giật sống dậy. Hai vai hắn từ từ nhấc lên, kéo theo tay chân của hắn, như thể hắn đang bị lôi kéo bởi những ngón tay vô hình. Tôi cần giết hắn. Tôi biết tôi cần giết hắn, nhưng tôi không thể. Sau lời thề tôi vừa tuyên bố, chỉ nghĩ đến việc lao vào cắn xé kẻ này và nếm thứ máu vẫn còn nóng hổi của hắn cũng đủ khiến tôi lạnh người đi vì kinh hãi. Hắn run rẩy, ói mửa, hai tay cào cào đất và vặn người ọe khan, hai mắt lồi to trong khi màu xám bùn của cái chết mới tràn vào trong mắt hắn. Một tiếng rên rỉ khàn đục đáng sợ tuôn ra từ miệng hắn, và tôi không chịu nổi nữa. Tôi quay người bỏ chạy. Ngay cả trong giây phút can đảm nhất, tôi cũng chỉ là một tên hèn.

Mưa đã trở nên nặng hạt. Chân tôi giẫm lép nhép trên phố, làm bùn bắn tứ tung lên bộ quần áo mới giặt. Tóc tôi rũ xuống mặt như rong biển. Đến trước một tòa nhà lớn xây bằng nhôm với một cây thánh giá gỗ ép trên mái, tôi quỳ xuống một vũng nước và vốc nước phả lên mặt. Tôi súc miệng bằng thứ nước cống bẩn thỉu ấy và nhổ cho đến khi tôi không thấy có vị gì trong miệng nữa. Cây thánh giá hình chữ T bằng gỗ vươn cao trên đầu tôi, và tôi tự hỏi liệu Chúa có tìm ra được lý do gì để chấp nhận tôi không, cho dù người có là cái gì và đang ở đâu đi chăng nữa.

Cậu đã gặp Người chưa, Perry? Người có còn sống không? Hãy nói với tôi rằng Người không chỉ là một cái miệng há hoác của bầu trời. Hãy nói với tôi rằng có cái gì đó khác đang nhìn xuống chúng ta, chứ không chỉ là cái hộp sọ xanh biếc trống rỗng.

Perry khôn ngoan không trả lời. Tôi chấp nhận sự im lặng đó, tôi đứng lên, và tôi tiếp tục chạy.

Tránh những ngọn đèn đường, tôi lần về nhà Julie. Tôi cuộn tròn người dựa vào tường, cố trú mưa dưới cái ban công trên đầu, và tôi đứng đợi ở đó trong khi mưa tuôn xối xả lên mái tôn. Hình như tôi đã đợi mấy tiếng đồng hồ liền thì mới nghe thấy giọng hai cô gái từ đằng xa, nhưng lần này nhịp điệu trong giọng nói của họ không hề khiến tôi vui thích. Điệu nhảy ấy chỉ còn là một bản điếu ca, và tiếng nhạc là một nốt giáng.

Họ chạy tới cửa trước, Nora trùm lên đầu cái áo khoác vải bò, Julie thì thắt chặt cái mũ của chiếc áo nỉ đỏ quanh mặt. Nora đến cửa trước và lao vào trong. Julie dừng lại. Tôi không biết là nàng đã nhìn thấy tôi trong bóng tối hay chỉ là vì nàng ngửi thấy mùi nước hoa sặc sụa của tôi, nhưng có cái gì đó đã khiến nàng nhìn sang phía bên ngôi nhà. Nàng thấy tôi ngồi co ro trong bóng tối như một chú chó con sợ sệt. Nàng từ từ tiến đến, tay nhét vào túi áo nỉ. Nàng quỳ xuống và nhìn tôi qua khe hở hẹp của cái mũ. “Anh không sao chứ?” nàng hỏi.

Tôi gật đầu mặc dù không phải thế.

Nàng ngồi xuống cạnh tôi trên khoảnh đất khô nhỏ và dựa lưng vào tường. Nàng bỏ mũ trùm xuống và cởi chiếc mũ len bên dưới ra để gạt mớ tóc ướt ra khỏi mắt, rồi lại đội cái mũ lên. “Anh làm tôi sợ quá. Tự nhiên anh biến đi đâu mất.”

Tôi khổ sở nhìn nàng, nhưng không nói gì.

“Anh có muốn kể cho tôi nghe xem chuyện gì đã xảy ra không?”

Tôi lắc đầu.

“Có phải anh đã, ờ… có phải anh đã đánh gục Tim và bạn anh ta không?”

Tôi gật.

Một nụ cười thích thú ngượng ngùng hiện lên mặt nàng, như thể tôi vừa tặng nàng một bó hoa hồng to tướng hoặc viết cho nàng một bản tình ca dở tệ vậy. “Anh… tốt quá” nàng nói, cố nén một tiếng cười khúc khích. Một phút trôi qua. Nàng chạm vào đầu gối tôi. “Hôm nay bọn mình đã rất vui, phải không? Mặc dù có những lúc hơi rắc rối?”

Tôi không cười nổi, nhưng tôi gật đầu.

“Tôi hơi ngà ngà say rồi. Anh thế nào?”

Tôi lắc đầu.

“Chán quá. Say thích lắm.” Nụ cười của nàng mở rộng hơn và mắt nàng nhìn xa vắng. “Anh có biết lần đầu tiên tôi uống rượu là hồi tôi lên tám không?” Giọng nàng hơi lè nhè. “Bố tôi rất sành rượu, và bố mẹ thường tổ chức những buổi tiệc nếm rượu khi nào bố không phải chinh chiến. Họ mời các bạn đến, mở một chai rượu nổi tiếng đắt tiền, và uống say túy lúy. Tôi cứ ngồi đó, ở giữa ghế xô pha và nhấp từng ngụm nhỏ từ nửa ly rượu tôi được phép uống và cười những người lớn ngốc nghếch mỗi lúc một ngớ ngẩn hơn. Bác Rosy cứ uống vào là mặt đỏ phừng phừng! Chỉ một ly thôi là trông bác ấy đã như Ông già Noel rồi. Có lần bác ấy với bố đã thi vật tay trên bàn nước và đánh vỡ một cái đèn. Hồi ấy… thật là vui.”

Nàng dùng một ngón tay vạch vạch xuống đất. Nụ cười của nàng có vẻ tiếc nuối, vu vơ. “R ạ, mọi chuyện không phải lúc nào cũng đen tối thế này đâu, anh biết không? Bố cũng có lúc rất dễ thương, và ngay cả khi thế giới sụp đổ chúng tôi vẫn có những khi vui vẻ. Cả nhà chúng tôi thường cùng nhau làm những chuyến thu gom nho nhỏ và nhặt về đủ loại rượu kỳ quái. Những chai Dom Romane Conti năm ‘97 đáng giá cả ngàn đô la, nằm lăn lóc trên sàn một hầm rượu bỏ hoang nào đó.” Nàng khẽ cười một mình. “Hồi đấy gặp những chai như thế là bố tôi lại điên lên. Đến khi chúng tôi chuyển vào đây thì bố đã có vẻ… im hơi lặng tiếng hẳn. Nhưng Chúa ơi, chúng tôi đã uống nhiều thứ rượu rất đắt tiền.”

Tôi ngắm nhìn nàng nói. Nhìn quai hàm nàng cử động và gom từng từ của nàng trong khi chúng tuôn ra khỏi miệng nàng. Tôi không đáng nhận được chúng. Những ký ức ấm áp của nàng. Tôi muốn dùng chúng tô vẽ cho những bức tường trát vữa trống trơn của tâm hồn mình, nhưng bất kỳ thứ nước sơn nào tôi tô lên cũng bong ra hết.

“Và rồi mẹ tôi bỏ đi.” Nàng nhấc ngón tay lên, ngắm nghía tác phẩm của mình. Nàng đã vẽ một ngôi nhà. Một ngôi nhà tranh xinh xắn với khói tuôn ra từ ống khói, một vầng mặt trời hiền từ mỉm cười nhìn xuống mái nhà. “Bố tôi nghĩ chắc mẹ đã say, nên mới đưa ra lệnh cấm rượu, nhưng tôi đã nhìn thấy mẹ, và mẹ không say. Mẹ hoàn toàn tỉnh táo.”

Nàng vẫn mỉm cười như thể đây là một hoài niệm bình thường, nhưng giờ nụ cười của nàng đã trở nên lạnh lùng, đờ đẫn.

“Tối hôm ấy mẹ vào buồng tôi và đứng ngắm tôi một lúc. Tôi giả vờ ngủ. Rồi đúng lúc tôi đang định chồm dậy kêu ‘hù’ thì… mẹ bước ra.”

Nàng đưa tay ra định xóa bức vẽ, nhưng tôi nắm cổ tay nàng ngăn lại. Tôi nhìn nàng lắc đầu. Nàng im lặng ngắm tôi một lát. Rồi nàng nhích sang bên để đối diện với tôi và cười, chỉ cách mặt tôi mấy phân.

“R này,” nàng nói. “Nếu tôi hôn anh thì tôi có chết không?”

Mắt nàng vẫn nhìn chăm chú. Nàng hầu như không say.

“Anh đã nói là không, đúng không? Tôi sẽ không bị lây nhiễm phải không? Bởi vì tôi rất muốn hôn anh.” Nàng cựa người. “Và nếu anh có lây cái gì cho tôi thì có lẽ cũng không tệ lắm. Ý tôi là, giờ anh đã khác rồi mà, đúng không? Anh không phải là Xác Sống. Anh là… một cái gì đó mới.” Mặt nàng gần sát mặt tôi. Nụ cười của nàng xịu xuống. “Thế nào, R?”

Tôi nhìn vào mắt nàng, nhìn trong làn nước lạnh băng của chúng như một thủy thủ đắm tàu cố với lấy cái bè. Nhưng chẳng có cái bè nào cả.

“Julie,” tôi nói. “Tôi phải… cho cô thấy cái này.”

Nàng ngoẹo đầu vẻ tò mò. “Cái gì?”

Tôi đứng lên. Tôi nắm lấy tay nàng và bắt đầu bước đi.

Đêm tĩnh lặng, chỉ trừ tiếng xào xạc nguyên sinh của màn mưa. Mưa nhỏ ướt đẫm nền đất, làm mặt đường nhựa trơn trượt, làm những cái bóng tan chảy ra thành những vết mực đen loang loáng. Tôi bám theo những con phố sau nhỏ hẹp và những ngõ ngách không có đèn. Julie đi theo sau tôi một quãng, mắt không rời mặt tôi.

“Mình đang đi đâu đây?” nàng hỏi.

Tôi dừng một ngã tư để dò tấm bản đồ trong ký ức đánh cắp được của mình, nhớ lại hình ảnh những nơi chốn tôi chưa bao giờ đến, những người tôi chưa bao giờ gặp. Sắp… đến rồi.”

Sau khi cẩn thận nhìn qua mấy góc quanh và lén lút lao qua các giao lộ, chúng tôi đã đến nơi. Một ngôi nhà năm tầng vươn lên trước mặt chúng tôi, cao gầy lênh khênh và xám xịt như tất cả những ngôi nhà khác trong cái thành phố xương xẩu này, những ô cửa sổ lập lòe ánh đèn vàng như những con mắt cảnh giác.

“Cái quái gì thế này, R?” Julie ngước lên nhìn ngôi nhà và thì thầm. “Đây là…”

Tôi kéo nàng đến cửa trước và chúng tôi đứng dưới hàng hiên nhô ra, trong khi mái nhà rung lên dưới màn mưa như đánh trống trận. “Cho tôi mượn… cái mũ nhé?” tôi hỏi mà không nhìn nàng.

Nàng không cử động hồi lâu, rồi nàng cởi mũ ra đưa cho tôi. Mũ len xanh sẫm với một sọc đỏ quanh vành…

Bà Rosso đã đan cái mũ này cho Julie làm quà sinh nhật năm mười bảy tuổi. Perry nghĩ khi đội nó trông nàng giống một con yêu tinh và mỗi khi nàng đội nó lên là gã lại nói với nàng bằng tiếng của Tolkien. Nàng gọi gã là tên ngộ chữ ngớ ngẩn nhất nàng đã từng biết, và gã cũng đồng tình trong khi vừa cười vừa hôn lên cổ nàng và…

Tôi kéo cái mũ len sụp xuống mặt và khe khẽ gõ cửa, mắt dán xuống đất như một đứa bé nhút nhát. Cửa hé mở. Một người phụ nữ trung niên mặc quần thể thao ngó ra nhìn chúng tôi. Mặt bà sưng húp, đầy nếp nhăn, cặp mắt đỏ ngầu thâm quầng. “Cô Grigio à?” bà lên tiếng.

Julie liếc nhìn tôi. “Chào bác Grau. Ờ…”

“Cháu làm gì ở đây? Nora có đi cùng cháu không? Quá giờ giới nghiêm rồi mà.”

“Cháu biết, chúng cháu… bị lạc sau khi ra khỏi Vườn Quả. Tối nay Nora sẽ ở lại nhà cháu nhưng ờ… chúng cháu vào một phút được không ạ? Cháu cần nói chuyện với các em.”

Tôi vẫn cúi đầu xuống trong khi bà Grau liếc qua tôi một cái. Bà mở cửa cho chúng tôi với một tiếng thở dài bực bội. “Cháu biết là cháu không thể ở lại đây được. Đây là trại trẻ chứ không phải là quán trọ, và anh bạn của cháu thì quá lớn để xin vào đây rồi.”

“Cháu biết, xin lỗi bác, chúng cháu sẽ…” Nàng lại liếc nhìn tôi. “Chúng cháu chỉ ở lại một phút thôi.”

Lúc này tôi không chịu nổi những lời xã giao nữa. Tôi đi qua người phụ nữ và tiến vào nhà. Một đứa bé mới lẫm chẫm biết đi ngó qua cửa buồng ngủ và bà Grau lườm nó. “Ta vừa nói gì hả?” bà quát, đủ to để đánh thức những đứa còn lại. “Quay về giường ngay lập tức.” Thằng bé biến vào bóng tối. Tôi dẫn Julie lên cầu thang.

Tầng hai cũng giống hệt tầng một, chỉ khác là có một đám trẻ độ dưới mười ba tuổi ngủ trên những tấm đệm nhỏ xếp thành hàng trên sàn. Nhiều quá. Những trại trẻ mới mọc lên chẳng khác nào nhà máy trong khi các ông bố bà mẹ biến mất, bị nhai và nuốt chửng bởi dịch bệnh. Chúng tôi bước qua những tấm thân nhỏ bé của chúng để lên cầu thang và một cô bé yếu ớt với tay về phía cổ chân Julie.

“Em bị ác mộng,” nó thì thầm.

“Chị xin lỗi, cưng ạ,” Julie thì thầm đáp lại. “Giờ thì em an toàn rồi, được chưa?”

Cô bé lại nhắm mắt vào. Chúng tôi lên cầu thang. Bọn trẻ trên tầng ba vẫn còn thức. Bọn thiếu niên và thanh niên râu đã bắt đầu lún phún đang ngồi trên những chiếc ghế xếp, cúi gập người bên bàn viết lia lịa vào vở hoặc giở qua những quyển sách hướng dẫn. Có mấy đứa đang ngáy khò khò trên những chiếc giường tầng trong các buồng ngủ hẹp. Tất cả cửa đều mở trừ một chiếc.

Một nhóm thanh niên lớn hơn ngạc nhiên ngước lên khỏi đống bài tập. “Ơ, chào Julie. Mọi chuyện thế nào rồi? Chị ổn chứ?”

“Chào các em. Chị…” Giọng nàng kéo dài dần, và dấu ba chấm trong lời nói của nàng biến thành dấu chấm hết. Nàng nhìn cánh cửa đóng kín. Nàng nhìn tôi. Tôi siết chặt tay nàng, tiến về phía trước, mở cửa ra, rồi đóng nó lại sau lưng chúng tôi.

Căn buồng tối om, chỉ trừ ánh đèn đường vàng vọt bên ngoài hắt vào qua cửa sổ. Trong buồng không có gì ngoài một cái tủ bằng gỗ dán, một cái giường trống trơn, với mấy bức ảnh của Julie dán lên trần nhà bên trên giường. Không khí trong buồng ngột ngạt, và lạnh hơn nhiều so với phần còn lại của ngôi nhà.

“R…” Julie nói bằng giọng run run đầy nguy hiểm. “Vì lý do khốn kiếp gì mà chúng ta lại đây?”

Tôi quay lại đối mặt với nàng. Trong cảnh tranh tối tranh sáng vàng vàng, chúng tôi trông như hai diễn viên trong một bộ phim câm bi kịch. “Julie,” tôi nói. “Giả thiết… về việc tại sao… chúng tôi lại… ăn óc người.”

Nàng bắt đầu lắc đầu.

“Là sự thật.”

Tôi nhìn vào đôi mắt đang đỏ dần lên của nàng một thoáng, rồi quỳ xuống và mở ngăn kéo dưới cùng của tủ. Trong đó, dưới hàng đống tem cũ, một cái kính hiển vi, một đội lính chì, là một xấp giấy buộc bằng dây đỏ. Tôi lôi nó ra đưa cho Julie. Theo nhiều cách kỳ lạ và bệnh hoạn nào đó thì tôi cảm thấy như bản thảo ấy là của mình. Như thể tôi vừa đưa cho nàng trái tim rướm máu của tôi trên một cái đĩa. Tôi đã sẵn sàng chờ đợi nàng cào xé nó.

Nàng đón lấy tập bản thảo. Nàng tháo sợi dây ra. Nàng nhìn trang bìa suốt một phút đồng hồ, hơi thở run rẩy. Rồi nàng lau mắt và hắng giọng.

“Răng Đỏ,” nàng đọc. “Tác giả Perry Kelvin.” Nàng nhìn xuống cuối trang. “Tặng Julie Cabernet, ánh sáng duy nhất còn lại.” Nàng đặt tập bản thảo xuống và nhìn đi chỗ khác hồi lâu, cố nén một tiếng nghẹn ngào trong họng, rồi lấy lại tinh thần và giở sang chương một. Trong khi nàng đọc, một nụ cười yếu ớt hiện ra qua hàng nước mắt. “Chà,” nàng nói, đưa một ngón tay lên quẹt mũi rồi sụt sịt. “Thật ra cũng… khá hay đấy. Anh ấy thường viết những truyện khô khan xa vời chán chết. Cái này… hơi sến… nhưng sến theo kiểu rất chân thật. Giống bản chất của anh ấy hơn.” Nàng lại nhìn vào trang bìa. “Anh ấy bắt đầu viết cách đây chưa đầy một năm. Tôi không biết là anh ấy vẫn còn viết cơ đấy.” Nàng giở đến trang cuối. “Chưa xong. Một câu bị bỏ dở giữa chừng. ‘Bị bất lợi cả về sức người lẫn vũ khí, cận kề với cái chết, chàng vẫn tiếp tục chiến đấu, bởi vì…’”

Nàng xoa xoa ngón cái lên tờ giấy, cảm nhận bề mặt của nó. Nàng áp tập giấy lên mặt và hít một hơi. Rồi nàng nhắm mắt, gập bản thảo vào, và buộc lại sợi dây. Nàng ngước lên nhìn tôi. Tôi cao hơn nàng cả một cái đầu và có lẽ nặng hơn gần ba chục ký, nhưng tôi cảm thấy mình thật bé nhỏ, nhẹ cân. Tựa hồ nàng có thể đánh ngã tôi và đè bẹp tôi chỉ với một lời thì thầm.

Nhưng nàng không nói gì. Nàng đặt tập bản thảo trở lại vào trong ngăn kéo và nhẹ nhàng đóng ngăn kéo vào. Nàng đứng thẳng dậy, lau mặt vào tay áo, rồi ôm lấy tôi, áp tai lên ngực tôi.

“Thình – thịch,” nàng khẽ nói. “Thình – thịch. Thình – thịch.”

Hai tay tôi buông thõng bên người. “Tôi xin lỗi,” tôi nói.

Mắt vẫn nhắm nghiền, giọng nghẹt đi vì vướng cái áo của tôi, nàng nói, “Tôi tha thứ cho anh.”

Tôi đưa tay ra chạm vào mớ tóc vàng rơm của nàng. “Cảm ơn.”

Ba câu nói ấy, thật đơn giản, thật nguyên sơ, nhưng chưa bao giờ chúng lại trọn vẹn đến thế. Không gì chối bỏ được ý nghĩa cơ bản của chúng. Tôi cảm thấy má nàng cử động trên ngực tôi, cảm thấy cơ má nàng kéo miệng nàng thành một nụ cười mủm mỉm.

Không nói thêm một lời, chúng tôi đóng cửa phòng Perry Kelvin và rời khỏi nhà của cậu ta. Chúng tôi bước xuống cầu thang, đi qua những thiếu niên đầy lo lắng, những đứa trẻ đang trằn trọc, những em bé đang mơ màng say ngủ, và ra ngoài phố. Tôi cảm thấy có gì đó thúc trong ngực mình, gần tim hơn là bụng, và một giọng nói nhẹ nhàng trong đầu.

Cảm ơn, Perry nói.

Tôi muốn câu chuyện kết thúc ở đây. Thật tuyệt làm sao nếu tôi có thể biên tập lại cuộc đời của chính mình. Nếu tôi có thể dừng lại ở giữa câu và cất phần còn lại vào một cái tủ ở đâu đó, để đắm mình vào chứng mất trí nhớ và quên hết những gì đã xảy ra, đang xảy ra, và sẽ xảy ra. Nhắm mắt lại và vui vẻ ngủ thiếp đi.

Nhưng không, “R” ạ. Không có ngủ giấc ngủ của những kẻ vô tội. Không dành cho mi. Mi đã quên rồi ư? Có máu vấy trên tay mi. Trên miệng mi. Trên răng mi. Cười lên để chụp ảnh nào.

“Julie,” TÔI NÓI, chuẩn bị tinh thần để thú nhận tội lỗi cuối cùng của mình. “Tôi phải… nói với cô…”

BANG

Những ngọn đèn halogen tần suất cao của Sân vận động bừng lên như mặt trời và nửa đêm biến thành ban ngày. Tôi có thể thấy từng lỗi chân lông trên mặt Julie.

“Cái quái gì thế?” nàng hổn hển quay ngoắt đầu nhìn khắp mọi hướng. Một tiếng còi báo động chói tai phá vỡ hoàn toàn sự im lặng của buổi đêm, và rồi chúng tôi nhìn thấy: màn hình lớn đã được bật lên. Lơ lửng ở khoảng trên của mái vòm để ngỏ như một tấm bảng hạ xuống từ Thiên đàng, màn hình chiếu một đoạn phim hoạt hình thô sơ vẽ một cầu thủ bóng bầu d*c đang chạy khỏi một Xác Sống, hai tay vươn ra cố níu kéo. Màn hình lập lòe xen kẽ giữa đoạn phim và một từ mà tôi nghĩ là:

XÂM PHẠM

“R..” Julie kinh hoàng nói, “anh đã ăn ai đó à?”

Tôi tuyệt vọng nhìn nàng. “Không còn l… không còn lư… không còn lựa chọn,” tôi lắp bắp, mất cả khả năng diễn đạt vì quá hoảng hốt. “Lính gác… ngăn tôi lại. Không… định thế. Không… muốn thế.”

Nàng mím môi, mắt nhìn như xuyên suốt qua tôi, rồi nàng khẽ lắc đầu một cái như muốn rũ bỏ một ý nghĩ và quyết định một điều gì khác. “Được rồi. Thế thì chúng ta nên vào nhà ngay thôi. Chết tiệt, R ạ.”

Chúng tôi chạy vào trong nhà và nàng đóng sập cửa lại. Nora đang đứng trên đầu cầu thang. “Hai người đã đi đâu thế? Ngoài kia có chuyện gì vậy?”

“Xâm phạm an ninh,” Julie nói. “Có Xác Sống trong Sân vận động.”

“Ý cậu là hắn ấy à?”

Sự thất vọng trong câu trả lời của nàng khiến tôi nhói đau. “Vừa đúng vừa không đúng.”

Chúng tôi vội đi vào buồng của Julie và nàng tắt hết đèn. Chúng tôi ngồi trên những đống quần áo bẩn trên sàn, và không ai nói gì một hồi lâu. Chúng tôi cứ ngồi đó lắng nghe mọi âm thanh. Tiếng lính gác chạy và hò hét. Tiếng súng. Hơi thở nặng nhọc của chính chúng tôi.

“Đừng lo,” Julie thì thầm với Nora, nhưng tôi biết lời an ủi ấy dành cho tôi. “Nó sẽ không lan rộng đâu. Tiếng súng ấy chắc có nghĩa là An ninh đã đẩy được chúng đi rồi.”

“Thế chúng ta đã thoát ra chưa?” Nora hỏi. “Liệu R có sao không?”

Julie nhìn tôi. Mặt nàng tối sầm. “Cho dù họ có gán vụ xâm phạm cho một người lên cơn đau tim thì người lính gác kia cũng rõ ràng là không thể tự ăn mình được. An ninh sẽ biết là vẫn còn ít nhất một Xác Sống chạy thoát.”

Nora nhìn theo mắt Julie về phía tôi, và tôi gần như có thể tưởng tượng ra mặt mình đang đỏ bừng lên. “Là anh à?” cô hỏi, cố lấy giọng bình thường.

“Không… cố ý. Định… giết… tôi.”

Cô không nói gì. Mặt cô vô cảm.

Tôi nhìn vào mắt cô, hết lòng mong sao cô cảm nhận được nỗi hận vô bờ của tôi. “Đây là lần cuối cùng,” tôi nói, cố bắt ngôn từ quay trở lại với cái lưỡi ngu ngốc của mình. “Cho dù thế nào đi chăng nữa. Thề có cái mồm trên trời.”

Mấy phút đau đớn trôi qua. Rồi Nora chậm rãi gật đầu và quay sang Julie. “Vậy thì bọn mình phải đưa hắn ra khỏi đây thôi.”

“Khi có xâm phạm là họ đóng tất cả lại. Cổng sẽ bị khóa và canh gác. Họ thậm chí có thể sẽ đóng cả mái vòm lại nếu họ thấy sợ đến mức ấy.”

“Thế bọn mình phải làm thế quái nào bây giờ?”

Julie nhún vai, cử chỉ ấy ở nàng trông thật ảm đạm, thật không phù hợp. Nàng nhìn tôi và nói, “Tớ không biết. Một lần nữa, tớ lại không biết.”

Julie và Nora ngủ thiếp đi. Họ đã gắng gượng thức suốt mấy tiếng đồng hồ, cố nghĩ ra kế hoạch gì đó để cứu tôi, nhưng rốt cuộc thì họ cũng đành chịu thua cơn buồn ngủ. Tôi nằm trên một đống quần và nhìn lên trần nhà điểm những ngôi sao xanh. Không dễ thế đâu, ngài Lennon. Cho dù ngài cố thử.

Chuyện này giờ nghe thật vớ vẩn, một vẩn bạc mỏng manh giữa một đám mây dông đen sì, nhưng tôi nghĩ là tôi đang bắt đầu học đọc. Khi tôi nhìn lên thiên hà lân tinh kia, những chữ cái trở nên liền mạch, ghép thành các từ. Tôi vẫn chưa biết ghép các từ lại thành câu, nhưng tôi tận hưởng cảm giác thích thú khi những ký hiệu nhỏ kia khớp vào với nhau và bùng nổ như những bong bóng xà phòng đầy âm thanh. Nếu tôi còn gặp lại vợ tôi… thì ít nhất tôi cũng sẽ đọc được biển tên của cô ấy.

Thời gian chậm chạp trôi qua. Đã quá nửa đêm từ lâu, nhưng bên ngoài vẫn sáng như ban ngày. Đèn halogen phả ánh sáng trắng vào ngôi nhà, len lỏi qua những khe hở giữa mành cửa. Tai tôi dỏng lên lắng nghe từng tiếng động quanh mình. Hơi thở của hai cô gái. Những cựa quậy của họ. Và rồi, đến khoảng bốn giờ sáng, có tiếng chuông điện thoại.

Julie thức giấc, chống khuỷu tay ngồi dậy. Ở một căn phòng đâu đó bên trong nhà, điện thoại lại reo vang. Nàng lật chăn ra và đứng lên. Thật lạ khi nhìn nàng từ góc độ này, vươn cao bên trên tôi thay vì co rúm bên dưới. Giờ tôi mới là người cần được bảo vệ. Một lỗi lầm nhỏ, một vấp váp tức thời trong cái lương tri tôi mới tìm lại được đây – chỉ cần có thế là mọi sự sẽ sụp đổ. Cuộc sống của một con người thật là một trách nhiệm nặng nề biết bao.

Điện thoại vẫn tiếp tục reo. Julie ra khỏi phòng và tôi theo nàng đi qua căn nhà tối, âm vang. Chúng tôi bước vào một căn buồng nhìn có vẻ là một văn phòng. Có một bàn viết lớn đầy giấy tờ và sơ đồ, và trên tường, vô số các loại điện thoại được gắn vào một phiến đá, mỗi cái một kiểu một nhãn hiệu, mỗi cái thuộc về một thời kỳ khác nhau.

“Họ đã chỉnh lại đường dây điện thoại,” Julie giải thích. “Bây giờ nó hoạt động giống điện đài hơn. Chúng tôi có dây nối trực tiếp đến những điểm quan trọng.”

Mỗi chiếc điện thoại có một biển tên dán bên dưới và địa điểm viết bằng bút dạ lên chỗ trống. Xin chào, tên tôi là:

VƯỜN

BẾP

NHÀ KHO

GA RA

KHO VŨ KHÍ

HÀNH LANG 2

NTĐ GOLDMAN

ĐẤU TRƯỜNG AIG

SVĐ LEHMAN

Vân vân.

Cái điện thoại đang reo, một chiếc kiểu quay số màu xanh cốm phủ đầy bụi, được dán nhãn:

BÊN NGOÀI

Julie nhìn cái điện thoại. Nàng nhìn tôi. “Lạ thật. Đường dây này là của điện thoại từ các vùng bị bỏ hoang bên ngoài. Giờ có bộ đàm rồi nên không ai dùng nó nữa.”

Điện thoại cứ reo hoài, tiếng chuông to, thúc giục. Tôi không thể tin được là Nora lại vẫn ngủ được.

Một cách chậm rãi, Julie nhấc ống nghe lên áp vào tai. “A lô?” Nàng đợi. “Gì cơ? Tôi không hiểu…” Nàng nhíu mày chăm chú. Rồi mắt nàng mở to. “Ồ.” Mắt nàng lại nheo lai. “Anh. Phải, là Julie đây, anh cần…” Nàng đợi. “Được rồi. Vâng, anh ấy ở ngay đây.”

Nàng chìa ống nghe cho tôi. “Điện thoại gọi anh đấy.”

Tôi nhìn cái điện thoại trong tay nàng. “Cái gì cơ?”

“Là bạn anh. Gã béo ở sân bay ấy mà.”

Tôi chộp lấy cái điện thoại. Tôi kề ống nghe vào miệng. Julie lắc đầu và giúp tôi quay ống nghe lại. Tôi thốt ra một tiếng sững sờ, “M?”

Giọng nói trầm trầm của anh lao xao vọng vào tai tôi. “Chào… chàng Tương Tư.”

“Cái gì… Anh đang ở đâu?”

“Trong… thành phố. Không biết… điện thoại… có được không, nhưng phải… thử. Cậu… ổn chứ?”

“Ổn nhưng… mắc kẹt. Sân vận động… bị đóng cửa.”

“Chết tiệt.”

“Có chuyện… gì thế? Ở ngoài ấy.”

Im lặng một hồi lâu. “R này,” anh nói. “Người Chết… vẫn đang đến. Từ sân bay. Các nơi khác. Giờ chúng tôi… đông lắm.”

Tôi im bặt. Cái điện thoại tuột khỏi tai tôi. Julie nhìn tôi vẻ chờ đợi.

“A lô?” M nói.

“Xin lỗi. Tôi đây.”

“Thế bọn tôi… đến đây rồi. Sao bây giờ? Nên… làm gì?”

Tôi gác ống nghe lên vai và nhìn vô định lên tường. Tôi nhìn đống giấy tờ và sơ đồ trên bàn của Tướng Grigio. Mọi chiến lược của ông đối với tôi đều là vô nghĩa. Tôi không nghi ngờ rằng chúng rất quan trọng – kế hoạch phân phát thức ăn, bản đồ xây dựng, cách chia vũ khí, sách lược chiến đấu. Ông đang cố giữ cho mọi người sống sót, và đó là điều tốt. Đó là nền tảng. nhưng như Julie nói, phải có điều gì đó sâu xa hơn thế. Mặt đất bên dưới nền tảng ấy. Không có mặt đất vững chắc thì tất cả sẽ sụp đổ, liên tục sụp đổ cho dù ông có đặt bao nhiêu gạch đi chăng nữa. Đó là điều tôi quan tâm. Mặt đất bên dưới lớp gạch.

“Có chuyện gì thế?” Julie hỏi. “Hắn nói gì?”

Trong khi nhìn vào khuôn mặt lo lắng của nàng, tôi lại cảm thấy bụng mình giần giật, nghe thấy giọng nói trẻ trung, háo hức trong đầu mình.

Chuyện đang xảy ra rồi, thây ma ạ. Cái điều mà mi và Julie đã châm ngòi, giờ nó đang chuyển động. Một căn bệnh tốt, một con virus đem đến sự sống! Mi có hiểu không, đồ quái vật ngu ngốc khốn khiếp? Nó đang ở trong mi! Mi phải ra khỏi bốn bức tường này và truyền nó đi khắp nơi!

Tôi hướng cái điện thoại về phía Julie để nàng cũng nghe thấy. Nàng áp lại gần.

“M,” tôi nói.

“Sao.”

“Nói với Julie đi.”

“Cái gì?”

“Nói với Julie… chuyện đang xảy ra.”

Một quãng lặng. “Thay đổi,” anh nói. “Nhiều người chúng tôi… đang thay đổi. Giống R.”

Julie nhìn tôi và tôi gần như cảm thấy tóc sau gáy nàng đang dựng đứng lên. “Không chỉ có anh thôi ư?” nàng hỏi, dịch ra xa cái điện thoại. “Chuyện… sống lại ấy?” Giọng nàng nhỏ bặt, rụt rè, như một cô bé thò đầu ra khỏi hầm tránh bom sau bao nhiêu năm sống trong bóng tối. Nó gần như run lên vì niềm hy vọng được nén chặt. “Anh định nói là bệnh dịch đang tự khỏi?”

Tôi gật đầu. “Chúng tôi đang… sửa mọi thứ.”

“Nhưng bằng cách nào?”

“Không biết. Nhưng chúng tôi phải… làm thêm. Ngoài kia… chỗ M ấy. ‘Bên ngoài’.”

Vẻ háo hức của nàng nguội dần, đanh lại. “Tức là chúng ta phải ra đi.”

Tôi gật đầu.

“Cả hai chúng ta ư?”

“Cả hai,” giọng của M vẳng đến qua ống nghe như một bà mẹ đang nghe lỏm. “Julie là… một phần trong đó.”

Nàng nghi ngờ nhìn tôi. “Anh muốn tôi. Một cô gái loài người gầy còm. Ra ngoài kia giữa hoang vu với một đàn Xác Sống?”

Tôi gật đầu.

“Anh có hiểu là nghe chuyện đó điên đến mức nào không?”

Tôi gật.

Nàng im lặng một lát, nhìn xuống sàn. “Anh có thật sự nghĩ là anh sẽ bảo vệ được tôi không?” nàng hỏi tôi. “Ở ngoài kia, với bọn họ ấy?”

Sự thành thực không chữa nổi của tôi khiến tôi ngần ngừ, và Julie nhíu mày.

“Có,” M trả lời hộ tôi, vẻ bực dọc. “Cậu ấy có thể. Và tôi sẽ… giúp.”

Tôi vội gật đầu. “M sẽ giúp. Những người khác… sẽ giúp. Hơn nữa,” tôi nói thêm với một nụ cười tủm tỉm, “cô có thể… tự bảo vệ mình.”

Nàng thờ ơ nhún vai. “Tôi biết. Tôi chỉ muốn nghe xem anh sẽ nói gì.”

“Vậy là cô sẽ…?”

“Tôi sẽ đi với anh.”

“Cô… chắc chứ?”

Mắt nàng xa xăm nhưng đanh thép. “Tôi đã phải chôn cái váy không người của mẹ tôi. Tôi đã đợi điều này từ lâu lắm rồi.”

Tôi gật đầu. Tôi hít một hơi thật sâu.

“Vấn đề duy nhất trong kế hoạch của anh,” nàng nói tiếp, “đó là hình như anh đã quên mất anh vừa ăn ai đó tối qua, và chỗ này sẽ bị đóng kín cho đến khi họ tìm ra anh và giết anh.”

“Chúng tôi… tấn công nhé?” M hỏi. “Cứu… cậu ra?”

Tôi đặt điện thoại lên tai, siết chặt ống nghe. “Không,” tôi bảo anh.

“Có… quân đội rồi. Trận chiến… đâu?”

“Không biết. Không ở đây. Đây là… con người.”

“Thế nào?”

Tôi nhìn Julie. Nàng nhìn xuống sàn và miết tay lên trán.

“Đợi đã,” tôi bảo M.

“Đợi á?”

“Thêm chút nữa. chúng tôi sẽ… nghĩ ra cách.”

“Trước khi… họ giết cậu?”

“Hy vọng thế.”

Một quãng im lặng kéo dài, đầy hồ nghi. Rồi, “Nhanh lên.”

Julie và tôi thức suốt đêm. Trong bộ quần áo vẫn ướt nước mưa, chúng tôi không nói một lời. Cuối cùng mắt tôi trĩu xuống, và trong sự bình thản kỳ lạ này, trong khoảng thời gian có lẽ là những giờ khắc cuối cùng của tôi trên Trái Đất, trí não tôi đã tạo ra ước mơ mở cánh cửa trong bóng tối long lanh như một bông hồng được quay chậm.

Trong giấc mơ này, giấc mơ của tôi, tôi đang trôi dọc một dòng sông trên cái đuôi bị cắt rời từ ngôi nhà máy bay của mình. Tôi đang nằm ngửa dưới bầu trời nửa đêm xanh ngắt, ngắm những ngôi sao lướt qua trên đầu. Dòng sông chưa được thăm dò, ngay cả giữa thời kỳ đầy bản đồ và vệ tinh này, và tôi không biết nó sẽ đổ về đâu. Không khí tĩnh lặng. Đêm ấm áp. Tôi chỉ đem theo hai thứ: một hộp mì Thái và cuốn sách của Perry. Cuốn sách dày. Cổ kính. Bọc bằng da. Tôi mở đến đoạn giữa. Một câu bỏ dở viết bằng một thứ ngôn ngữ tôi chưa bao giờ thấy, và sau đó chẳng còn gì nữa. Một cuốn sách khổng lồ toàn giấy trắng, trống trơn, chờ đợi. Tôi gập cuốn sách lại và đặt đầu lên lớp thép lạnh. Mùi mì Thái xộc vào mũi tôi, ngọt ngào, cay cay, nồng đượm. Tôi cảm thấy dòng sông đang rộng dần ra, nước chảy xiết hơn.

Tôi nghe thấy tiếng thác đổ.

“R.”

Tôi mở mắt ra và ngồi dậy. Julie đang ngồi xếp bằng bên cạnh tôi, ngắm nhìn tôi với vẻ thích thú dữ dằn.

“Anh nằm mơ hay chứ?”

“Không… chắc,” tôi lầm bầm, đưa tay dụi mắt.

“Anh có mơ được giải pháp nào cho vấn đề nho nhỏ của chúng ta không?”

Tôi lắc đầu.

“Ừ, tôi cũng không.” Nàng liếc nhìn đồng hồ treo tường và rầu rĩ mím môi. “Mấy tiếng nữa là tôi phải đến trung tâm cộng đồng để đọc truyện. David và Marie sẽ khóc nếu tôi không có mặt.”

David và Marie. Tôi nhắc lại những cái tên ấy trong đầu, tận hưởng từng đường nét của chúng. Tôi sẵn sàng cho cô chó Trina ăn cả cái chân mình để được gặp lại hai đứa trẻ ấy. Để được nghe mấy âm tiết vụng về thốt ra từ miệng chúng trước khi tôi chết. “Cô đang… đọc truyện gì?”

Nàng nhìn qua cửa sổ ngắm thành phố, mỗi vết rạn và chỗ hỏng đều nổi hẳn lên dưới ánh sáng trắng chói lòa. “Tôi đang cố làm chúng thích bộ Tường Đỏ[1]. Tôi nghĩ những bài hát và yến tiệc và các chàng chiến binh chuột dũng cảm sẽ giúp chúng quên đi cơn ác mộng giữa cuộc sống của chúng. Marie cứ xin đọc sách về Xác Sống và tôi cứ phải bảo nó là tôi không thể đọc sách người thật việc thật trong giờ đọc truyện được, nhưng…” Nàng nhận thấy vẻ mặt tôi và ngừng lại. “Anh không sao chứ?”

[1] Redwall, bộ truyện thiếu nhi của nhà văn Anh Brian Jacques (1939 – 2011), kể về những cuộc phiêu lưu mạo hiểm của các con vật nhỏ đã được nhân cách hóa như chuột, sóc, thỏ, chồn, v.v.

Tôi gật đầu.

“Anh đang nghĩ về hai đứa con ở sân bay phải không?”

Tôi ngần ngừ, rồi gật,

Nàng vươn tay ra chạm vào đầu gối tôi và nhìn vào cặp mắt cay sè của tôi. “R này? Tôi biết mọi chuyện giờ có vẻ tệ, nhưng nghe này. Anh không được bỏ cuộc. Chừng nào anh còn thở – xin lỗi, chừng nào anh còn cử động, thì mọi chuyện chưa kết thúc. Được chứ?”

Tôi gật đầu.

“Được chứ? Chó chết, nói ra đi, R.”

“Được.”

Nàng mỉm cười.

“HAI. TÁM. HAI MƯƠI TƯ.”

Chúng tôi giật bắn người buông nhau ra khi một cái loa trên trần bỗng ré lên một loạt con số, tiếp theo là một tiếng còi báo động chói tai.

“Đây là Đại tá Rosso với một thông báo cho toàn thành phố,” cái loa nói. “Vụ xâm phạm an ninh đã được kiểm soát. Nhân viên bị lây bệnh đã được vô hiệu hóa, và không có thêm thương vong nào.”

Tôi thở phào ra.

“Tuy nhiên…”

“Chết tiệt,” Julie thì thầm.

“… nguồn gốc của vụ xâm phạm vẫn còn tự do bên trong thành phố của chúng ta. Đội tuần tra an nình sẽ bắt đầu lục soát từng nhà một trong Sân vận động. Vì chúng ta không biết vật này đang trốn ở đâu, tất cả mọi người nên ra khỏi nhà và tập trung ở một nơi công cộng. Xin đừng tự nhốt mình trong một nơi chật hẹp.” Rosso dừng lại hắng giọng. “Rất xin lỗi các bạn vì điều này. Chúng tôi sẽ xử lý mọi việc, xin các bạn hãy… bình tĩnh.”

Có một tiếng cách, rồi loa phóng thanh im bặt.

Julie đứng bật dậy và chạy vào phòng ngủ. nàng kéo rèm lên cho ánh đèn tràn qua cửa sổ. “Đến giờ dậy rồi, cô Greene, chúng ta không còn nhiều thời gian nữa đâu. Cậu có nhớ lối ra cũ nào trong đường hầm trên tường không? Có đúng là có lối thoát hiểm cứu hỏa đâu đó gắn lô ghế trên không nhỉ? R này, anh đã trèo được thang chưa?”

“Đợi đã, cái gì?” Nora cất tiếng khàn khàn hỏi và cố che mắt. “Có chuyện gì thế?”

“Theo như bạn của R thì cái thế giới Xác Sống tệ hại này kết thúc rồi, đấy là nếu bọn mình không bị giết trước đó.”

Cuối cùng thì Nora cũng tỉnh hẳn. “Xin lỗi, cái gì cơ?”

“Tí tớ sẽ kể cho cậu sau. Họ vừa mới thông báo tuần tra. Bọn mình có khoảng mười phút. Bọn mình cần phải tìm…” Giọng nàng nhòe đi và tôi chỉ biết ngắm miệng nàng chuyển động. Hình dáng môi nàng tạo thành từng từ, cách cái lưỡi nàng đập đập vào hàm răng trắng lấp lánh. Nàng đang bám lấy niềm hy vọng còn tay tôi thì đang tuột dần. Nàng vừa nói vừa quấn một lọn tóc quanh ngón tay, lọn tóc vàng bết lại cứng đơ và đang cần được gội.

Mùi cay cay từ dầu gội đầu của nàng, các thứ hoa, thảo mộc và quế trộn cùng mùi dầu tự nhiên của nàng. Nàng không bao giờ chịu nói mình dùng loại dầu gội nào. Nàng thích giữ bí mật về mùi hương của mình.

“R!”

Julie và Nora đang nhìn tôi chờ đợi. Tôi mở miệng định nói, nhưng không biết nói gì. Và rồi cửa trước của ngôi nhà bật mở mạnh đến nỗi nó vang vọng khắp các bức tường kim loại đến tận chỗ chúng tôi. Tiếng ủng dậm mạnh kêu rầm rầm trên cầu thang.

“Ôi Chúa ơi,” Julie hốt hoảng thốt lên. Nàng dẫn chúng tôi ra khỏi phòng và vào nhà tắm ngoài hành lang. “Trang điểm lại cho anh ấy đi,” nàng rít lên với Nora, và đóng sầm cửa lại.

Trong khi Nora luống cuống mở hộp phấn để tô lại bộ mặt ướt nước mưa của tôi nghe thấy hai giọng nói ngoài hành lang.

“Bố, có chuyện gì thế? Đã tìm ra Xác Sống đó chưa ạ?”

“Chưa, nhưng sẽ tìm được thôi. Con có nhìn thấy gì không?”

“Không, con vẫn ở nhà mà.”

“Con có một mình thôi à.”

“Vâng, con đã ở đây từ tối qua.”

“Sao đèn trong nhà tắm lại bật?”

Có tiếng chân bước về phía chúng tôi.

“Đợi đã, bố! Đợi một giây!” Nàng khẽ hạ giọng xuống. “Nora và Archie đang ở trong đấy.”

“Thế sao con lại nói là con chỉ có một mình? Đây không phải là lúc để đùa, Julie ạ, không phải là lúc để chơi trốn tìm.”

“Họ đang… bố biết đấy… ở trong ấy.”

Một thoáng ngần ngừ rât ngắn. “Nora và Archie,” ông quát vọng qua cửa, giọng gấp gáp và rất to. “Các cháu vừa nghe loa thông báo có vụ xâm phạm rồi đấy. Ta không thể nghĩ ra được một thời điểm ít thích hợp hơn để ân ái. Ra khỏi đó ngay.”

Nora đẩy tôi dựa vào bồn rửa mặt và dúi mặt tôi vào ngực cô đúng lúc ông Grigio giật tung cửa ra.

“Bố!” Julie thét lên, liếc Nora một cái thật nhanh khi cô đẩy tôi ra.

“Ra đây ngay lập tức,” ông Grigio nói.

Chúng tôi ra khỏi nhà tắm. Nora chỉnh lại quần áo và vuốt tóc, tỏ vẻ ngượng ngùng khá giống thật. Tôi cứ nhìn ông Grigio không chút hối lỗi, chuẩn bị sẵn thanh quản cho bài kiểm tra quan trọng đầu tiên và có lẽ cũng là cuối cùng. Ông nhìn lại tôi với bộ mặt căng thẳng, góc cạnh ấy, mắt xoáy vào mắt tôi. Chúng tôi cách nhau chưa đầy hai bước chân.

“Chào cậu, Archie,” ông nói.

“Chào bác ạ.”

“Cậu và cô Greene đang yêu?”

“Vâng ạ.”

“Tuyệt lắm. Cô cậu đã nghĩ đến chuyện cưới xin chưa.”

“Chưa ạ.”

“Còn chần chừ gì nữa. Có gì phải đợi đâu. Đây là những ngày cuối rồi. Cậu sống ở đâu, Archie?”

“Sân… Goldman ạ.”

“Nhà thi đấu Goldman chứ?”

“Vâng ạ. Xin lỗi bác.”

“Cậu làm việc gì ở nhà thi đấu Goldman.”

“Làm vườn ạ.”

“Việc đó có đủ cho cậu và Nora nuôi con không?”

“Chúng cháu không có con ạ.”

“Con cái sẽ thay thế khi chúng ta chết. Khi có con, cậu sẽ cần phải nuôi chúng. Tôi được biết là mọi chuyện ở Nhà thi đấu Goldman rất xấu. Tôi được biết là các cậu đang hết tất cả mọi thứ. Chúng ta đang sống trong một thế giới thật đen tối, phải không Archie.”

“Thỉnh thoảng ạ. Không phải luôn luôn.”

“Chúng ta cố gắng hết sức với những gì được Chúa ban cho. Nếu Chúa cho chúng ta đá trong khi chúng ta xin bánh mì, thì chúng ta sẽ mài sắc răng mà ăn đá.”

“Hoặc là tự làm… bánh mì ạ.”

Ông Grigio mỉm cười. “Cậu bôi phấn đấy à, Archie?”

Ông Grigio đâm tôi.

Tôi thậm chí còn không nhận ra lưỡi dao bị rút khỏi vỏ. Con dao dài mười hai phân đâm lút vào vai tôi rồi xuyên sang phía bên kia, ghim tôi vào tường. Tôi không cảm thấy gì và cũng không giật mình. Vết thương không chảy máu.

“Julie!” ông Grigio gầm lên, lùi ra khỏi tôi và rút súng, mắt trợn ngược trong hố sâu hoắm. “Con đã đem Người Chết vào thành phố này sao! Vào nhà của ta! Con đã để Người Chết chạm vào mình sao!”

“Bố, nghe con đã!” Julie nói, chìa tay về phía ông. “R rất khác! Anh ấy đang thay đổi!”

“Người Chết không thay đổi, Julie! Chúng không có trí não và không có tâm hồn!”

“Làm sao chúng ta biết được? Chỉ vì họ không nói chuyện với chúng ta và kể cho chúng ta nghe về cuộc sống của họ ư? Chúng ta không hiểu được ý nghĩ của họ và vì thế chúng ta cho rằng họ không có ý nghĩ nào ư?”

“Chúng ta đã kiểm tra! Người Chết không hề có dấu hiệu tự nhận thức hay có phản ứng tình cảm nào hết!”

“Chính bố cũng không, bố ạ! Trời đất ơi – R đã cứu mạng con! Anh ấy đã bảo vệ con và đưa con về nhà! Anh ấy là người! Và còn nhiều người khác giống anh ấy nữa!”

“Không,” ông Grigio nói, đột nhiên bình tĩnh lại. Tay ông không run nữa và khẩu súng được giữ chắc, cách mặt tôi chỉ vài phân.

“Bố, xin bố hãy nghe con? Xin bố đấy?” Nàng tiến lại gần hơn. Nàng đang cố tỏ ra bình tĩnh, nhưng tôi có thể thấy là nàng đang hết sức hoảng sợ. “Khi con ở sân bay, một chuyện gì đó đã xảy ra. Chúng con đã châm ngòi cho một điều gì đó, và cho dù nó là cái gì đi chăng nữa thì nó cũng đang lan tỏa ra. Người Chết đang sống lại, họ đang rời khỏi tổ và đang cố thay đổi bản chất, và chúng ta phải tìm cách giúp họ. Bố thử tưởng tượng là chúng ta có thể chữa khỏi bệnh dịch này xem! Thử tưởng tượng là chúng ta có thể dọn sạch những rắc rối này và bắt đầu lại từ đầu!”

Ông Grigio lắc đầu. Tôi có thể thấy các cơ hàm của ông cuộn lên dưới lớp da trắng bệch. “Julie, con còn trẻ. Con không hiểu nổi thế giới này. Chúng ta có thể sống sót và chúng ta có thể giết những thứ muốn giết chúng ta, nhưng không có giải pháp tổng thể nào hết. Chúng ta đã tìm kiếm suốt bao năm nay mà không tìm được gì, và giờ thì thời hạn đã hết. Thế giới đã kết thúc. Nó không thể được chữa lành, nó không thể được vá víu lại, nó không thể được cứu vãn.”

“Có chứ!” Julie hét lên với ông, mất hết mọi vẻ bình tĩnh. “Ai là người có quyền quyết định cuộc sống la một cơn ác mộng? Ai viết nên những điều luật khốn kiếp ấy? Chúng ta có thể sửa chữa được nó, chỉ là chúng ta chưa bao giờ thử mà thôi! Chúng ta đã quá bận bịu, ích kỷ và sợ sệt!”

Ông Grigio nghiến chặt răng. “Con là người mơ mộng. Con còn là trẻ con. Con chẳng khác nào mẹ con.”

“Bố, nghe con đi!”

“Không.”

Ông lên cò súng và gí nó vào trán tôi, ngay trên miếng băng dính của Julie. Nó đây. Cái sự trớ trêu thường trực của M đây. Cái chết không thể tránh khỏi, vốn đã bỏ qua tôi suốt bao nhiêu năm trong khi tôi ngày ngày thèm khát nó, giờ lại xuất hiện đúng lúc tôi muốn sống vĩnh viễn. Tôi nhắm mắt lại và chuẩn bị tinh thần.

Máu ấm bắn lên mặt tôi – nhưng không phải là máu của tôi. Tôi mở choàng mắt đúng lúc con dao của Julie sượt qua tay ông Grigio. Khẩu súng bắn ra khỏi tay ông và cướp cò lúc nó rơi xuống sàn, rồi lại nhả ra một tràng đạn nữa khi nó bị dội ngược trở lại giữa những bức tường hẹp của hành lang như một quả bóng nảy bật khắp nơi. Tất cả co dúm người tránh đạn, và cuối cùng khẩu súng quay tít chạm vào chân Nora. Trong sự im lặng như tờ, cô trố mắt nhìn nó, rồi nhìn sang vị tướng. Ông lao đến, ôm lấy bàn tay bị đâm. Nora chộp lấy khẩu súng trên sàn và chĩa nó vào mặt ông. Ông đứng im. Quai hàm ông nghiến chặt và ông tiến tới như thể vẫn định lao đến. Nhưng rồi Nora đẩy băng đạn đã hết ra lôi một băng mới từ trong túi xách ấn nó vào khẩu súng và lên một viên vào ổ đạn, tất cả bằng một động tác nhuần nhuyễn mà không rời mắt khỏi ông. Ông Grigio lùi lại.

“Đi đi,” cô nói, đưa mắt nhìn Julie. “Tìm cách ra khỏi đây đi. Cố lên.”

Julie nắm lấy tay tôi. Chúng tôi lùi ra khỏi phòng trong khi bố nàng đứng đó run lên vì giận dữ.

“Tạm biệt bố,” Julie khẽ nói. Chúng tôi quay người chạy xuống cầu thang.

“Julie!” ông Grigio gào lên, và âm thanh ấy khiến tôi nhớ đến một âm thanh khác, tiếng hú trống rỗng của một cái tù và hỏng, giống tới mức tôi run rẩy trong chiếc áo ướt.

Chúng tôi chạy. Julie chạy trước, dẫn đường xuyên qua những con phố hẹp. Sau lưng chúng tôi, những tiếng hò hét giận dữ vang ra từ nhà Julie. Rồi tiếng bộ đàm hú lên. Chúng tôi chạy, và chúng tôi đang bị đuổi. Julie dẫn đường không lấy làm quyết đoán cho lắm. Chúng tôi phải liên tục chạy thành hình dích dắc hoặc đi ngược lại. Chúng tôi như những con chuột l*ng lên trong cũi. Chúng tôi chạy trong khi những mái nhà vươn cao xoay tít trên đầu.

Rồi chúng tôi bắt gặp bức tường. Một bức tường chắn bằng bê tông gắn đủ loại giàn giáo, thang và lối đi chẳng dẫn đến đâu hết. Những ghế ngồi đã biến mất, nhưng vẫn còn lại một cái cầu thang một con đường tối tăm mời gọi chúng tôi trèo lên trên. Chúng tôi chạy tới đó. Mọi thứ hai bên cầu thang đã bị gỡ bỏ hết, nó lơ lửng giữa không trung như chiếc thang của Jacob[2] vậy.

[2] Cầu thang dẫn lên thiên đường trong Kinh thánh.

Chúng tôi vừa lên đến lối ra thì một tiếng quát vọng lên từ mặt đất bên dưới. “Cô Grigio!”

Chúng tôi quay nhìn lại. Đại tá Rosso đang đứng ở bậc thang dưới, vây quanh là một đội sĩ quan An ninh. Ông là người duy nhất không giương súng lên.

“Xin đừng chạy!” ông gọi Julie.

Julie kéo tôi vào hành lang và chúng tôi lao vào bóng tối.

Khoảng trống bên trong rõ ràng là vẫn đang xây dựng dở, nhưng phần lớn vẫn còn nguyên hình dáng như khi nó bị bỏ hoang. Hàng bán xúc xích, ki ốt đồ lưu niệm, và những quầy bán bánh vòng giá tám đô la nằm im lìm lạnh lẽo trong bóng mờ. Tiếng quát tháo của đội An ninh vang vọng sau lưng chúng tôi. Tôi chờ đợi một ngõ cụt chặn đường chúng tôi, bắt tôi phải quay lại đối mặt với điều không thể tránh khỏi.

“R!” Julie vừa chạy vừa hổn hển nói. “Chúng ta sẽ thoát, anh hiểu không? Chúng ta sẽ làm được!” Giọng nàng vỡ ra, vừa vì mệt vừa vì những giọt nước mắt đang dâng lên. Tôi không thể trả lời nổi.

Hành lang kết thúc. Trong ánh sáng mờ nhạt xuyên qua những cái lỗ trên lớp bê tông, tôi thấy một tấm biển trên cửa đề chữ:

LỐI THOÁT HIỂM

Julie chạy nhanh hơn, kéo tôi theo. Chúng tôi lao người vào cánh cửa và nó mở tung ra…

“Ôi chết t…” nàng hức lên một tiếng và quay ngoắt lại, nắm chặt lấy khung cửa trong khi một chân lơ lửng từ độ cao tám tầng.

Gió lạnh gào rú quanh khung cửa, nơi cầu thang thoát hiểm đã bị gỡ mất, chỉ còn lại một mẩu ngắn nhô ra từ bức tường. Chim bay qua. Dưới chân chúng tôi, thành phố trải rộng như một nghĩa địa mênh mông với các tòa nhà chọc trời là những tấm bia.

“Cô Grigio!”

Rosso và các sĩ quan của ông dừng lại cách chúng tôi chừng hai mươi bước. Rosso thở nặng nhọc, rõ ràng ông đã quá già để đuổi bắt như thế này.

Tôi nhìn xuống mặt đất bên dưới. Tôi nhìn Julie. Tôi nhìn xuống một lần nữa, rồi lại nhìn Julie.

“Julie,” tôi nói.

“Gì cơ?”

“Cô có chắc là muốn… đi với tôi không?”

Nàng nhìn tôi, cố hít thở qua những thanh phế quản đang nhanh chóng bóp nghẹt lại. Trong mắt nàng hiện lên vô số câu hỏi, có cả nỗi nghi ngờ, hình như cả sự sợ hãi nữa, nhưng nàng gật đầu. “Có.”

“Xin đừng chạy nữa,” Rosso rên lên, chống tay vào đầu gối. “Đường đó không ra được đâu.”

“Cháu phải đi,” nàng đáp.

“Cô Cabernet. Julie. Cháu không thể để bố cháu lại đây được. Ông ấy chỉ còn có mình cháu.”

Nàng cắn môi dưới, nhưng mắt vẫn lạnh băng. “Bố cháu đã chết rồi, bác Rosy ạ. Bố chỉ chưa rữa ra đấy thôi.”

Nàng nắm tay tôi, bàn tay tôi đã làm gãy khi đấm vào mặt M, và siết chặt đến nỗi tôi sợ nàng sẽ làm gãy nó lần nữa. Nàng ngước lên nhìn tôi. “Thế nào, R?”

Tôi kéo nàng lại gần. Tôi vòng tay quanh người nàng và ôm chặt như muốn gien của chúng tôi hòa vào nhau. Chúng tôi đứng đối diện nhau và tôi gần như có thể hôn nàng, nhưng thay vào đó tôi chỉ lùi lại hai bước và chúng tôi ngã qua khung cửa.

Chúng tôi lao xuống như một con chim bị bắn hạ. Tay và chân tôi vòng quanh nàng, gần như ôm trọn cả tấm thân nhỏ nhắn của nàng. Chúng tôi rơi qua một mái nhà chìa ra, một thanh chắn xuyên vào đùi tôi, đầu tôi đập vào một cái rầm, chúng tôi vướng vào một tấm áp phích quảng cáo điện thoại di động làm nó rách đôi, và rồi, cuối cùng thì chúng tôi cũng rơi xuống đất. Một loạt những tiếng răng rắc dội qua người tôi trong khi lưng tôi đập xuống đất và sức nặng của Julie đè lên ngực tôi. Nàng lăn xuống, vừa nghẹn vừa cố hít thở, còn tôi nằm đó nhìn lên trời. Thế đấy.

Julie chống tay và đầu gối ngồi dậy rồi lục túi tìm ra ống thuốc hít, hít một hơi rồi nín thở, một tay vẫn chống xuống đất để đỡ lấy cơ thể. Khi đã thở lại được bình thường, nàng quỳ xuống bên tôi với ánh mắt kinh hoàng. Mặt nàng che cả vầng mặt trời mờ ảo. “R!” nàng thì thầm. “Này!”

Chậm rãi và run rẩy như cái ngày mới đội mồ sống dậy, tôi lảo đảo đứng lên. Các khúc xương khắp người tôi kêu kẽo kẹt. Tôi mỉm cười, và với giọng nam cao hổn hển, lạc điệu của mình, tôi hát, “Em khiến… tôi thấy… thật trẻ trung…”

Nàng cười phá lên và ôm lấy tôi. Cái ôm của nàng khiến mấy khớp xương của tôi bật về chỗ cũ đánh rắc một cái.

Nàng nhìn lên khung cửa mở. Nó đóng khung lấy Rosso, ông đang nhìn xuống chúng tôi. Julie vẫy tay với ông, và ông biến vào trong Sân vận động rất nhanh, chứng tỏ ông sẽ đuổi theo chúng tôi. Tôi cố không tức giận vì tính nguyên tắc của ông – trong thế giới của ông, mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh.

Vậy là Julie và tôi chạy vào thành phố. Với mỗi bước, tôi cảm thấy cơ thể mình vững vàng hơn, các đốt xương thẳng hàng trở lại, nhưng mô cơ cứng lại quanh các chỗ rạn để tôi không rã ra thành từng mảnh. Tôi chưa bao giờ cảm thấy như thế này. Có phải là tôi đang lành lại không?

Chúng tôi lao qua những con phố vắng hoe, qua vô số xe hơi gỉ sét, hàng đống lá rụng và rác rưởi. Chúng tôi chạy ngược những con đường một chiều. Chúng tôi bỏ qua biển dừng đỗ. Trước mặt chúng tôi: ranh giới của thành phố, ngọn đồi cao đầy cỏ nơi thành phố mở rộng ra và xa lộ dẫn đến những nơi khác. Đằng sau chúng tôi: tiếng gầm rú không ngừng của các loại xe tấn công đang rồ máy chạy ra khỏi Sân vận động. Việc này không thể chấp nhận được! Cái miệng thép của những nhà chức trách tuyên bố. Tìm những hòn than nhỏ ấy và dập tắt chúng ngay lập tức! Với những tiếng gào rú ấy sau lưng, chúng tôi đi lên đồi.

Chúng tôi đối mặt với một đội quân.

Họ đứng trên một đồng cỏ bên cạnh đường dẫn lên xa lộ. Có hàng trăm người. Họ đi lang thang trong đám cỏ, ngước lên nhìn trời hoặc không nhìn gì cả, những bộ mặt xám ngoét teo tóp có vẻ bình thản đến lạ lùng. Nhưng khi những người đứng đầu nhìn thấy chúng tôi họ im sững, rồi quay ngoắt về phía chúng tôi. Vẻ tập trung của họ truyền đi như một đợt sóng cho đến khi cả đám đông đều đứng nghiêm. Julie nhìn tôi như muốn cười, ý nói, Thật ư? Rồi hàng người bỗng rẽ ra và một Xác Sống to con, đầu trọc, cao hơn một mét chín, tiến đến trước.

“M,” tôi chào.

“R,” anh đáp lại. Anh gật đầu với Julie. “Julie.”

“Chààào…” nàng nói, dựa sát vào tôi vẻ nghi ngại.

Những chiếc xe đuổi theo chúng tôi phanh lại đánh kít, và chúng tôi nghe thấy tiếng động cơ rồ lên. Chúng đã ở rất gần rồi. M bước lên đỉnh đồi và đám đông đi theo anh. Julie bám sát lấy tôi trong khi họ vây quanh chúng tôi, bao bọc chúng tôi giữa đội quân nặng mùi, giữa những hàng lối hôi thối của họ. Không hiểu do tôi tưởng tượng hay là do ánh sáng mà da của M có vẻ đỡ xám hơn thường lệ. Đôi môi rách toạc của anh cũng có vẻ sinh động hơn. Và lần đầu tiên kể từ khi tôi quen anh, bộ râu ria tỉa kỹ của anh không vấy máu.

Những chiếc SUV rầm rập lao về phía chúng tôi, nhưng khi đám đông Người Chết hiện ra trên đỉnh đồi thì đoàn xe chậm dần rồi dừng lại. Chỉ có bốn chiếc tất cả. Hai chiếc Hummer H2, một chiếc Chevy Tahoe và một chiếc Escalade, tất cả đều được phun sơn màu xanh cỏ úa kiểu quân sự. Từ chỗ chúng tôi đứng, những cỗ máy khổng lồ ấy nom thật nhỏ bé và thảm hại. Cửa chiếc Tahoe bật mở và Đại tá Rosso từ từ bước ra. Tay nắm chặt khẩu súng trường, ông lướt nhìn qua những hàng người đang chao đảo, tính toán chênh lệch lực lượng và lên kế hoạch. Mắt ông mở to sau cặp kính dày. Ông nuốt nước bọt, rồi hạ súng xuống.

“Cháu xin lỗi, bác Rosy,” Julie nói với xuống chỗ ông, và chỉ về phía Sân vận động. “Cháu không thể ở đó được nữa, bác hiểu không? Toàn là một lời dối trá khốn kiếp. Chúng ta nghĩ chúng ta đang sống sót trong đó, nhưng không phải vậy.”

Rosso chăm chú nhìn những Xác Sống xếp hàng quanh ông, nhìn xoáy vào mặt họ. Ông đã già rồi, nên có lẽ ông đã được chứng kiến buổi ban đầu của những điều này. Ông biết Người Chết nhìn như thế nào, và ông có thể thấy ở đây có gì đó khang khác, cho dù cái khác ấy có mờ nhạt, khó nhận đến thế nào đi chăng nữa.

“Cháu không thể một mình cứu cả thế giới được!” ông nói to. “Hãy quay lại đi và chúng ta có thể bàn bạc việc này!”

“Cháu không có một mình,” Julie nói, chỉ vào rừng Xác Sống đang lảo đảo quanh mình. “Cháu còn có những người này.”

Miệng Rosso co rúm lại một cách khổ sở, rồi ông nhảy lên xe, đóng sầm cửa lại và rồ máy quay trở về Sân vận động với ba chiếc xe kia nối đuôi theo sau. Đây chỉ là một quãng giải lao ngắn, như một hơi thở hít vào, bởi vì tôi biết họ sẽ không bỏ cuộc, họ không thể bỏ cuộc, họ chỉ đang thu thập sức lực, vũ khí và quyết tâm tàn bạo của họ mà thôi.

Và họ nên làm vậy, bởi vì nhìn chúng tôi mà xem. Chúng tôi là hàng trăm con quỷ và một cô gái nặng bốn mươi lăm cân, đứng ở rìa thành phố của họ với những cặp mắt rực lửa. Sâu thẳm dưới chân chúng tôi Trái đất đang kìm nén hơi thở nóng chảy, trong khi bộ xương của hàng bao thế hệ nhìn theo chúng tôi và chờ đợi.

CHÚNG TÔI TẬP TRUNG lại trên đường dẫn lên xa lộ. Sau lưng chúng tôi là thành phố. Trước mặt chúng tôi là những ngọn đồi gồ ghề đầy cổng quán sủi và những dải phân cách có trồng hoa dẫn về sân bay. Julie đứng sát bên tôi, nhìn kém tự tin hơn nhiều so với hình ảnh nhà cách mạng liều lĩnh mà nàng vừa phô ra với Rosso. Tôi đặt tay lên vai nàng và quay ra nói với đám đông.

“Julie!”

Đám đông rùng mình, và tôi nghe thấy tiếng một hai hàm răng nghiến ken két. Tôi cao giọng hơn. “Julie! Chúng ta bảo vệ cô ấy.”

Một vài người trong số họ có vẻ thèm mồi lắm, nhưng phần lớn những người khác đều không thấy cái vẻ đói khát trong mắt. Tôi chỉ thấy sự kinh ngạc như khi ở sân bay, nhưng sâu sắc hơn. Tập trung hơn. Họ không chỉ nhìn nàng, họ đang quan sát nàng. Thấm hút lấy nàng. Cứ mỗi giây lại có những đợt run rẩy kỳ lạ xuyên qua cơ thể họ.

Tôi bắt gặp M nhìn nàng theo một kiểu khác, và tôi búng tay trước mặt anh.

“Thôi nào,” anh nói, như thể tôi đang tỏ ra quá quắt lắm vậy.

Tôi ngồi xuống trên tường chắn bằng bê tông, cố suy nghĩ. Tiếng gầm từ đoàn xe của Rosso đã mờ dần về đằng xa. Tất cả mọi người đang nhìn tôi. Những cái nhìn đầy sốt ruột từ tất cả mọi hướng. Cái nhìn ấy như muốn nói, Thế nào? Và tôi chỉ muốn hét lên Thế nào cái gì? Tôi không phải là một vị tướng hay đại tá hay người xây dựng thành phố. Tôi chỉ là một thây ma không muốn làm thây ma nữa.

Julie ngồi xuống cạnh tôi và đặt tay lên đầu gối tôi. Bây giờ tôi mới nhìn thấy những vết xước và thâm tím trên người nàng vì cú nhảy không dù của chúng tôi. Thậm chí có cả một vết trên má nàng, một vết cắt nông khiến nàng phải nhăn mặt mỗi khi cười. Tôi ghét nó.

“Cô bị thương rồi,” tôi nói.

“Không sao đâu.”

Tôi tức giận vì nàng bị thương. Tôi tức giận vì nàng đã bị tổn thương bởi tôi và những người khác trong suốt cuộc đời nàng. Tôi hầu như không còn nhớ nổ cảm giác đau, nhưng khi nhìn nàng bị đau tôi thấy như mình cũng đau lây, một nỗi đau lớn hơn nhiều so với nỗi đau của nàng. Nó len lỏi vào mắt tôi, làm mắt tôi cay sè.

“Sao cô… lại đến đây?” tôi hỏi nàng.

“Để giúp anh mà, nhớ không? Và để bảo vệ anh nữa.”

“Nhưng tại sao?”

Nàng khẽ mỉm cười, nhưng vết cắt trên má nàng lại ứa máu. “Bởi vì tôi quý anh, Ngài Xác Sống ạ.” Nàng lau máu trên mặt, nhìn nó, rồi quệt nó vào cổ tôi. “Đấy. Thế là bọn mình hòa nhé.”

Nhìn nàng ngồi cạnh tôi, thiên thần tóc vàng mắt xanh này, bao quanh là những Người Chết đang nhỏ dãi, cô gái yếu ớt đang mỉm cười với đôi môi rướm máu, nhìn về một tương lai vô định, tôi cảm thấy có cái gì đó trào lên trong mình. Mắt tôi nhòe đi, và một dòng nước chảy xuống mặt tôi. Cảm giác cay sè trong mắt tôi dịu hẳn.

Julie chạm vào má tôi và nhìn ngón tay nàng. Nàng nhìn tôi với vẻ kinh ngạc đến nỗi tôi không thể đáp trả cái nhìn ấy. Thay vào đó tôi đứng dậy và buột miệng nói, “Chúng ta sẽ quay về sân bay.”

Những Người Chết nhìn tôi. Họ nhìn M.

“Vì sao?” M hỏi.

“Vì đó là nơi… chúng ta sống. Nơi chúng ta… bắt đầu.”

“Bắt đầu… gì? Chiến tranh ư? Đánh Xương Khô?”

“Không phải chiến tranh. Không phải… kiểu như thế.”

“Thế là cái gì?”

Trong khi tôi đứng đó cố nghĩ câu trả lời, cố chưng cất những hình ảnh đang đảo lộn trong đầu, nào là tiếng nhạc trong những dãy hành lang tối của sân bay, hai đứa con tôi chui ra khỏi chỗ trốn và phủi bụi trên làn da đang hồng hào dần, một cử động, một thay đổi nào đó – trong khi tôi đứng đó mơ màng thì bầu không khí im lìm của thành phố bỗng rung động vì một tiếng thét. Một tiếng hú khàn đặc hoảng hốt như một con bò đang bị xẻ thịt dở.

Một người đang từ bên dưới xa lộ lao về phía chúng tôi. Anh ta chạy, nhưng bước chạy không vững chứng tỏ anh ta là Xác Sống. M bước ra đón người mới tới. Tôi nhìn họ nói chuyện với nhau, người mới đến vẫy tay và làm điệu bộ với vẻ khiến bụng tôi thót lại. Chắc chắn anh ta đem tin xấu tới.

Anh ta đứng vào cùng chúng tôi và M chầm chậm quay lại chỗ tôi, vừa đi vừa lắc đầu.

“Sao thế?” tôi hỏi.

“Không… về nhà được.”

“Sao không?”

“Xương Khô… điên rồi. Đến từ… khắp mọi nơi. Giết tất cả những ai… khác biệt.”

Tôi nhìn người mới đến. Thoạt đầu tôi đã ngỡ anh ta thối rữa nặng, nhưng hóa ra đó là những vết thương nghiêm trọng, vô số vết cắn và vết cào. Dưới đường còn nhiều người khác giống anh ta. Một số người đi trên xa lộ, một số khác loạng choạng bò qua đất bùn và cỏ của các dải phân cách, một đám đông chừng vài trăm người rải rác khắp nơi.

“Người như chúng ta… tìm cách trốn,” M nói tiếp. “Và Xương Khô… đuổi theo.”

Anh vừa dứt lời thì, như thể được gọi bởi tên của chúng, những nhà quảng cáo của thần Chết xuất hiện. Một, rồi hai, rồi năm hay sáu bóng trắng lao ra từ những hàng cây ở đằng xa và xông vào hai Xác Sống đang bỏ chạy. Tôi nhìn những bộ xương ấy kéo họ xuống rồi đập đầu họ xuống nền đường. Tôi nhìn chúng giẫm nát óc họ như giẫm quả thối. Và tôi nhìn chúng mỗi lúc một đông lên, hiện ra từ đám cây và những con dốc trên xa lộ, xa hết tầm mắt, tập trung lại trên đường thành một bầy lúc nhúc, xương kêu lắc rắc.

“Ôi chó chết thật…” Julie thì thào.

“Kế hoạch mới?” M cố tỏ ra bình tĩnh hỏi.

Tôi đứng đó băn khoăn không biết làm sao. Tôi lại như đang ở trong phòng Julie, nằm cạnh nàng trên đống quần áo bẩn trong khi nàng nói, Chúng ta không còn chạy đi đâu được nữa, phải không? Và tôi lầm lì lắc đầu, nói với nàng rằng giờ cả thế giới đã bị bao phủ bởi cái chết. Đâu đó trong tiềm thức, tôi nghe thấy tiếng động cơ xe SUV, hơn bốn chiếc nhiều, đang lao xuống phố Chính để khử tôi và lôi Julie quay lại hầm mộ bê tông của họ, ướp xác nàng như một cô công chúa và đặt nàng nằm vĩnh viễn trong một cái quách sáng đèn neon nào đó.

Vậy đó. Chúng tôi đang mắc kẹt ở vực thẳm giữa cái nôi và nấm mồ, không thích hợp với cả hai nơi.

“Kế hoạch mới!” M nói, cắt ngang dòng suy tưởng của tôi. “Đi vào… thành phố.”

“Chúng ta vào đó làm cái quái gì?” Julie hỏi.

“Dụ Xương Khô vào. Để Người Sống xử lý.”

“Nhầm rồi,” nàng quát. “Đội An ninh sẽ không phân biệt giữa Xương Khô với Xác Thối đâu. Họ sẽ tiêu diệt sạch cả hai.”

“Chúng tôi… sẽ trốn,” M nói. Anh chỉ xuống con dốc xa lộ, về phía một thung lũng rộng gồm những căn nhà nằm trải dài và những bùng binh đầy cỏ dại – góc phía Bắc của khu ngoại ô mà tôi và Julie đã nghỉ lại một đêm tự ngày xửa ngày xưa trong một câu chuyện cổ tích cũ kỹ mốc meo.

“Cái gì, cứ trốn kỹ và hy vọng là An ninh cùng những bộ xương kia sẽ tự xử lẫn nhau ư?”

M gật đầu.

Julie ngừng lại hai giây. “Một kế hoạch dở tệ, nhưng được rồi, đi thôi.” Nàng quay người định chạy, nhưng M đặt tay lên vai nàng. Nàng gạt ra và quay ngoắt lại nhìn anh. “Làm cai gì thế? Đừng có đụng vào tao!”

“Cô… đi với R,” M nói.

“Cái gì?” tôi giật mình hỏi anh, và anh chăm chú nhìn tôi bằng cặp mắt xám khô khốc trong khi cố tìm từ.

“Chúng tôi… dụ chúng đường này. Cậu dẫn cô ấy… đi đường kia.”

“Cái gì cơ?” Julie kêu lên. “Anh ấy sẽ không ‘dẫn tôi’ đi đâu hết, tại sao chúng ta lại tách riêng ra?”

M chỉ vào một vết thương bầm tím vẫn đang rỉ máu trên tay nàng, rồi chỉ vào vết xước trên má nàng. “Vì cô… yếu ớt,” anh nói bằng giọng dịu dàng khác thường. “Và… quan trọng.”

Julie nhìn M. Nàng không nói gì. Không hiểu sao nàng và tội lại đã ở ngoài rìa đám đông, và tất cả mọi người đều nhìn chúng tôi. Bọn Xương Khô đã đến gần tới mức chúng tôi nghe được chúng. Tiếng những bàn chân khô giòn của chúng lê xào xạc và tiếng rền vang trầm trầm của thứ năng lượng đen tối đang tiếp sức cho chúng. Tiếng của thứ tủy đen ngòm cuồn cuộn trong từng ống xương của chúng.

Tôi gật đầu với M và anh gật đầu đáp lại. Tôi nắm tay Julie. Nàng cưỡng lại một thoáng, mắt không rời đám đông, rồi nàng quay sang nhìn tôi, và chúng tôi chạy đi. M cùng những người khác biến khỏi tầm mắt trong khi chúng tôi lao xuống bờ lũy và tiến vào khi trung tâm đổ nát. Những bóng ma cũ trong đầu tôi thức dậy và chạy cùng chúng tôi, hăng hái động viên chúng tôi.

Một điều chúng tôi không biết, một điều chúng tôi chưa từng nhìn thấy. Ký ức không thể lấn át được hiện tại lịch sử cũng có giới hạn của nó. Chúng ta chỉ là những thầy thuốc thời Trung cổ khăng khăng giữ lấy những con đỉa của mình chăng? Chúng ta thèm muốn một khoa học tiên tiến hơn. Chúng ta muốn được chứng tỏ rằng chúng ta đã sai.

Chỉ mấy phút sau chúng tôi đã nghe thấy tiếng trận chiến. Tiếng súng máy vang vọng khắp những khe hẻm hẹp của các con phố. Những tiếng nổ nhỏ đập mạnh vào ngực chúng tôi như tiếng đàn bass từ xa vẳng lại. Thỉnh thoảng lại có tiếng thét của một bộ Xương Khô, tiếng the thé chói tai đến độ xuyên qua cả một khoảng cách dài như điện truyền qua nước.

“Chúng ta có nên trốn vào một trong những chỗ kia không?” Julie hỏi, chỉ mấy tòa tháp bằng gạch và thép. “Để đợi đến khi yên ổn ấy?”

Tôi gật đầu nhưng vẫn ngần ngừ đứng lại trên phố. Tôi không hiểu tôi còn chần chừ điều gì. Chúng tôi còn biết làm gì khác ngoài chạy trốn?

Julie chạy đến tòa nhà gần nhất. Nàng thử mở cửa. “Khóa.” Nàng đi sang bên kia đường đến một tòa chung cư. “Cũng khóa.” Nàng đến gần một căn nhà cổ kính xây bằng đá sa thạch và lắc lắc cửa. “Cái này có khi…” Một ô cửa sổ vỡ tan trên đầu nàng một bộ xương bò xuống bức tường như con nhện và nhảy lên lưng nàng. Tôi lao qua phố túm lấy xương sống sinh vật ấy kéo ra khỏi nàng, nhưng những ngón tay nhọn hoắt của nó găm chặt lấy da thịt nàng như những mấu gai. Tôi ôm lấy sọ nó bằng cả hai tay và gồng mình ngăn không cho nó cắn vào cổ nàng. Mặc dù cổ nó chỉ còn là những sợi gân khô héo, bộ xương ấy vẫn khỏe đến không ngờ. Quai hàm nó táp táp về phía nàng.

“Dựa vào… tường!” tôi gắng bảo Julie. Nàng loạng choạng lùi lại và đập bộ xương vào tường. nó đuối sức vừa đủ lâu để tôi vặn đầu nó khỏi người nàng rồi đập nó lên bục cửa sổ. Hộp sọ nứt rạn. Bộ mặt không còn da thịt nằm giữa hai bàn tay tôi như đang nhìn thẳng vào tôi. Và mặc dù vẻ mặt nó lúc nào cũng là một nụ cười nhăn nhở, tôi vẫn nghe được tiếng gào tức tối của nó trong đầu mình:

DỪNG LẠI. DỪNG LẠI. CHÚNG TA LÀ TOÀN BỘ NHỮNG NĂM THÁNG CỦA CÁC NGƯƠI.

Tôi lại đập đầu nó vào tường. Hộp sọ nứt ra và sinh vật ấy không còn túm chặt lấy Julie được nữa.

CÁC NGƯỜI SẼ TRỞ THÀNH CHÚNG TA. CHÚNG TA SẼ THẮNG. LUÔN LUÔN LÀ THẾ, LUÔN LUÔN SẼ…

Tôi ném nó xuống mặt đường và dận giày lên đầu nó. Những khúc xương vỡ nát im lìm. Tiếng rền vang ngưng bặt.

Tôi đang định nắm tay Julie và lao người qua cánh cửa cũ kỹ của căn nhà đá sa thạch thì một điều mà tôi không hiểu nổi xảy ra. Hộp sọ dưới chân tôi giật giật, và khi bộ não bị giẫm bẹp trong đó tan rữa, thì cái miệng bỗng mở rộng, phát ra một tiếng kêu đau đớn thảm thiết như một con chim bị thương. Tiếng kêu ấy nghe khác hẳn tiếng xương rền vang hay tiếng tù và réo hay tiếng thét của những bộ xương, và tôi kinh hoàng tự hỏi không biết có phải đó là con người trước kia của nó, là linh hồn khô quắt của nó vừa trút hơi thở cuối cùng trước khi tan biến vào hư vô không. Tóc gáy tôi dựng đứng. Julie rùng mình. Và như để đáp lại tiếng kêu ai oán ấy, một âm thanh vang lên từ dưới những con phố đằng xa. Một thứ tiếng lạch cạch kéo từ khắp mọi hướng, như một vòng tròn khép chặt dần lại quanh chúng tôi. Qua khóe mắt, tôi nhìn thấy cái gì đó cử động, và tôi nhìn lên. Sau cửa sổ của tất cả các tòa nhà toàn là những bộ mặt với cặp mắt trống rỗng. Hàm răng trần trụi của chúng nhe qua những ô cửa, hằm hè nhìn xuống chúng tôi như một bồi thẩm đoàn trong ác mộng.

“Chuyện gì thế?” Julie hỏi van vỉ, sự mệt mỏi bao trùm lấy cả khuôn mặt nàng.

Tôi không muốn trả lời. Tôi lo nàng đã cạn kiệt sức lực, và câu trả lời của tôi thì chẳng lấy gì làm lạc quan. Như khi nhìn lên những cái đầu lâu không chớp mắt đằng sau các ô cửa sổ kia, tôi không biết phải làm gì khác. “Tôi nghĩ chúng muốn… chúng ta,” tôi nói. “Cô và tôi. Chúng biết… chúng ta là ai.”

“Chúng ta là ai ấy à?”

“Những người đã… bắt đầu mọi chuyện.”

“Chó chết, anh đùa tôi đấy chăc?” nàng thét lên, mắt đảo điên nhìn xuống phố trong khi tiếng giậm chân lạch cạch tiến lại gần hơn. “Anh định bảo tôi là những thứ này biết thù dai hay sao? Chúng sẽ ‘săn đuổi chúng ta’ chỉ vì chúng ta vô tình đảo lộn cái ngôi nhà ma ám ngu ngốc của chúng ở sân bay sao?”

Julie, Julie, Perry thì thầm trong đầu tôi. Tôi có thể nghe thấy nụ cười trong giọng nói của gã. Nhìn anh đi, cưng. Nhìn mặt R và hãy đọc câu trả lời ở đó. Đây không phải là chuyện thù hằn. Những sinh vật này quá thực tế để quan tâm đến việc trả thù. Chúng đã phát hiện ra hai người. Không phải vì hai người đã bắt đầu chuyện này, mà bởi vì chúng biết hai người sẽ kết thúc nó.

Vẻ hoảng hốt của Julie bỗng sững lại khi nàng chợt hiểu ra. “Ôi Chúa ơi,” nàng thì thào.

Tôi gật đầu.

“Chúng sợ chúng ta ư?”

“Phải.”

Nàng ngẫm nghĩ điều đó hồi lâu, rồi gật đầu lia lịa và nhìn xuống đất, cắn môi, mắt đảo tới lui. “Được rồi,” nàng nói. “Được rồi, được rồi, ừ, tôi hiểu rồi. Đi nào.”

Nàng nắm lấy tay tôi và chạy. Chạy thẳng về phía đám đông đang đi tới.

“Cô làm… gì thế?” tôi vừa chạy theo nàng vừa hổn hển hỏi.

“Đây là phố Chính,” nàng nói. “Đây là chỗ đội của bố tôi đã gặp lúc tôi lái xe về nhà. Tức là ngay sau góc này sẽ là…”

Nó đang ở đó. Chiếc Mercedes cũ màu đỏ, đỗ ở giữa đường, nằm đó đợi chúng tôi như một người tái xế trung thành. Và cách chúng tôi ba khối nhà là tiền tuyến của bọn Xương Khô, chúng đang đổ xuống phố và lao về phía chúng tôi với một ý định duy nhất. Chúng tôi nhảy lên xe, Julie khởi động, và chiếc xe xoay tít một cái thành hình chữ u, lượn giữa các xe cộ khác bị bỏ lại trên đường – vụ tắc đường cuối cùng của thành phố. Bọn Xương Khô lao đến sau lưng chúng tôi, nhảy tới trước với quyết tâm không khoan nhượng của chính thần Chết, nhưng chúng tôi đang bỏ chúng lại.

“Chúng ta… đi đâu đây?” tôi hỏi trong khi mặt đường đầy ổ gà làm quai hàm tôi đánh đàn.

“Quay về Sân vận động.”

Tôi trố mắt nhìn nàng. “Cái gì?”

“Nếu những bộ xương này đang đuổi theo chúng ta, cụ thể là chúng ta mà thôi, thì chúng sẽ đuổi theo chúng ta đến đó, phải không? Chúng sẽ bỏ qua các bạn của anh và đuổi theo chúng ta. Chúng ta có thể dẫn chúng thẳng đến cổng.”

“Và sau đó… thì sao?”

“Chúng ta trốn trong khi An ninh xử lý bọn chúng. Chúng không thể vượt qua tường Sân vận động được, trừ phi chúng biết bay hay là đại loại thế.” Nàng liếc nhìn tôi. “Chúng không biết bay đấy chứ?”

Tôi nhìn thẳng về phía trước, qua kính chắn gió, bám chặt lấy bảng đồng hồ trong khi Julie lao xe qua những có phố đổ nát với tốc độ kinh người. “Quay về… Sân vận động,” tôi nhắc lại.

“Tôi biết anh nghĩ gì. Với anh quay lại đó chẳng khác nào tự sát, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể thoát được.”

“Bằng cách nào? Bố cô…”

“Bố tôi muốn giết anh, tôi biết. Ông chỉ… bố tôi không còn nhìn thấy được mọi chuyện nữa. Nhưng tôi nghĩ bác Rosy thì có thể. Tôi đã quen bác ấy không mù đâu, mặc dù phải đeo đôi đít chai ấy. Tôi dám chắc là bác ấy hiểu được sự tình.”

Sau khi cắt đuôi bọn Xương Khô ở những phố bên ngoằn ngoèo, chúng tôi vòng trở lại phố Chính, chui qua một khoảng Hành lang 1 chưa xây xong. Giữa hai bức tường bê tông, phố đã được dọn sạch hết xe cộ và rác rưởi, dẫn thẳng về Sân vận động như một đoạn đường băng Julie vào số và tăng tốc cho tới khi động cơ cũ kỹ của chiếc xe rên lên. Mái vòm của Sân vận động vươn cao ở đường chân trời, chồm lên như một con thú khổng lồ. Trèo vào miệng ta đi, nó mơn trớn mời gọi. Nào hai cô cậu, đừng sợ hàm răng của ta.

Với cái chết chắc chắn ở sau lưng, chúng tôi lao qua trung tâm thành phố về phía một cái chết khác không chắc chắn bằng. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã nghe thấy những âm thanh quen thuộc. Tiếng động cơ lớn rồ máy và tiếng súng nổ như bắp rang, nhưng giờ đã ở rất gần chứ không còn xa nữa. Khi tường Hành lang biến thành những khung sắt trống rỗng và tầm nhìn của chúng tôi được mở rộng ra, thì tôi và Julie chỉ còn biết kinh hoàng nhìn trân trối.

Thành phố Sân vận động đã bị bao vây. Như thể đoán trước được kế hoạch của chúng tôi, nhiều toán Xương Khô đã xông tới các bức tường từ những hướng khác nhau trong thành phố, nhảy qua xe cộ và bò bằng cả bốn chân như những con mèo giơ xương. Ban An ninh đang hết sức mình xả súng và ném bom làm mặt tiền các cửa hàng nổ tung và các cột đèn giao thông đổ xuống, nhưng những bộ xương vẫn đang đổ tới từ mọi hướng, không cần đến sự trợ giúp của đội quân đang tiến tới sau lưng chúng tôi. Tôi chợt nhớ đến lần trước khi tôi ngồi trong chiếc xe này. Frank và Ava du ngoạn giữa một truyện tình lãng mạn thời Hoàng Kim, trong một cái bong bóng ấm áp đầy hoa, tiếng chim, và những cặp mắt tươi cười xanh biếc màu xanh Technicolor. Có phải cái cảnh địa ngục rực lửa này đã luôn có ở đó, đảo lộn bên ngoài cái bong bóng của chúng tôi không? Với hàng đàn quỷ dữ đang cào cấu tìm cách chui vào trong?

Thật là sai trái. Tất cả đều sai trái hết. Tôi trân trân nhìn đội quân đang đông dần lên như thể tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cái xác biết đi vậy. Chúng từ đâu đến? Với những gì tôi nghĩ là mình biết về quá trình thối rữa của chúng tôi, thì con số này là không thể có được. Phải mất hàng bao nhiêu năm trời chúng tôi mới rữa hết thịt. Cho dù chúng có đang đáp lại một tiếng gọi khiêu chiến nào đó và đổ đến từ các thành phố gần bên… thì cũng không thể có nhiều đến thế này được.

Đây là bộ mặt mới của dịch bệnh ư? Mạnh mẽ hơn, tàn bạo hơn, mỗi lúc một khỏe và nhanh hơn ư? Cái lỗ trong chiếc đồng hồ cát đang rộng ra ư?

Julie nhìn tôi với một nỗi sợ mới nhen nhóm lên trong mắt. “Anh có nghĩ là…?”

“Đừng,” tôi bảo nàng. “Cứ đi tiếp thôi. Quá muộn để… thay đổi kế hoạch rồi.”

Nàng đi tiếp. Nàng vòng xe qua những hố lựu đạn, nhảy qua các vỉa hè, lái xe trên lề đường và đâm vào những tên Xương Khô đi bộ như một gã tài xế say xỉn. Chiếc Mercey lịch lãm đã bắt đầu rúm ró cả lại, như một bi kịch bên vệ đường.

“Kia rồi!” đột nhiên nàng reo lên. “Bác ấy đấy!” Nàng rồ máy lao về phía cổng, vừa đi vừa nhấn còi inh ỏi. Khi đến gần, tôi nhận ra Đại tá Rosso đang đứng ở cổng chính ra lệnh sau một lô cốt dựng bằng những chiếc Suburban bọc thép. Julie phanh két lại trước đoàn xe và nhảy ra. “Bác Rosy!” nàng vừa kêu vừa chạy về phía cổng với tôi theo sát phía sau. “Cho chúng cháu vào cho chúng cháu vào!”

Đám lính giơ súng lên, nhìn tôi rồi nhìn Rosso. Tôi chuẩn bị tinh thần đón viên đạn sẽ xuyên đầu và kết thúc tất cả mọi sự. Nhưng Rosso vẫy tay với họ. Họ hạ vũ khí xuống. Chúng tôi chạy đến cổng và những người lính vây quanh chúng tôi, nhằm về phía những kẻ đang đuổi theo chúng tôi.

“Cô Cabernet,” Rosso bối rối nói. “ Cháu đã cứu được thế giới rồi ư?”

“Chưa hẳn ạ,” nàng hổn hển đáp. “Bọn cháu gặp chút rắc rối.”

“Bác thấy rồi,” ông nói, mắt nhìn đội quân xương khô đang kéo đến.

“Các bác có thể xử lý được chúng chứ ạ?”

“Bác nghĩ là được.” Ông quan sát lính của mình hạ đợt sóng đi đầu, rồi loay hoay nạp đạn trước khi đợt tiếp theo kéo đến. “Bác hy vọng là được.”

“Bác đừng nói với bố cháu là chúng cháu đang ở đây.”

“Julie… cháu quay về đây làm gì?”

Nàng siết chặt bàn tay nổi gân của ông. “Cháu đã bảo với bác rồi mà.”

Ông hé mở cánh cổng khổng lồ ra. “Về bố cháu thì bác không thể hứa gì với cháu được. Ông ấy… không còn là người mà bác biết nữa.”

“Chuyện gì phải xảy ra thì nó sẽ xảy ra thôi ạ. Cảm ơn bác Rosy.” Nàng hôn nhẹ lên má ông và lách qua cánh cổng để ngỏ.

Tôi ngần ngừ đứng trên ngưỡng cửa. Tay vẫn đặt trên cánh cổng, Rosso nhìn tôi chăm chú, cặp mắt nheo lại không sao dò nổi. Tôi nhìn lại ông. Không nói một lời, ông mở cổng ra cho tôi và bước sang một bên. Tôi gật đầu với ông và đi theo Julie.

Một lần nữa chúng tôi lại lẩn lút đi trên những con phố như mê cung của Sân vận động, đến đâu cũng là những kẻ phải chạy trốn. Julie đi rất nhanh, mắt nhìn tên phố để quyết định xem nên rẽ vào đâu. Hơi thở của nàng có vẻ khó nhọc nhưng nàng không dừng lại để hít thuốc. Khắp người đầy máu me, bẩn thỉu, quần áo rách nát và phổi khò khè, nàng với tôi chưa bao giờ giống nhau đến thế.

“Cô đi… đâu vậy?” tôi hỏi.

Nàng chỉ lên màn hình lớn. Một bức ảnh chụp Nora đang lập lòe trên đó cùng với dòng chữ sau:

NORA GREENE

TẤN CÔNG CÓ VŨ KHÍ

BẮT NGAY KHI PHÁT HIỆN

“Chúng ta sẽ cần đến cô ấy,” Julie nói. “Cho dù chuyện gì xảy ra tiếp theo thì tôi cũng muốn chắc là cô ấy ở bên chúng ta chứ không bị nhốt trong một buồng giam nào.”

Tôi nhìn lên khuôn mặt khổng lồ nhòe nhoẹt các điểm ảnh của Nora. Nụ cười vui vẻ của cô chẳng hợp chút nào với bức hình truy nã ấy. “Có phải vì thế… mà ta quay về không?” tôi hỏi với về phía Julie. “Vì cô ấy?”

“Năm mươi – năm mươi thôi.”

Một nụ cười nở ra trên mặt tôi. “Cô đã có… kế hoạch,” tôi cố lấy giọng bóng gió nói. “Không chỉ là… bảo vệ cho an toàn… mà thôi.”

“Tôi cứ tưởng tôi đã thoát nợ với cái nơi này,” nàng nói, không chậm bước, và không giải thích gì thêm.

Chúng tôi đi bên lề Sân vận động, bám theo bức tường bao quanh vành đai của nó. Những sợi dây cáp chống đỡ bằng thép dày cột vào lớp bê tông trên đầu chúng tôi khẽ kêu tưng tưng như tiếng súng laser trong phim viễn tưởng, trong lúc những tòa nhà chao đảo kẽo kẹt giữa cơn gió. Những con phố bùn lầy đều vắng hoe. Đội An ninh chắc đang ở hết ngoài kia đấu với bọn Xương Khô, trong khi người dân thường co rúm trong những căn nhà mỏng manh của họ đợi cho mọi chuyện qua đi. Bầu trời buổi chiều hôm nay tuyền một màu vàng cam nhàn nhạt, với những đám mây cao bay vun v*t qua mặt trời. Khung cảnh gần như có vẻ yên bình, nếu như không có đội quân ngoài kia với tiếng náo loạn vọng qua bức tường, như những người hàng xóm bất lịch sự.

“Tôi đoán được cô ấy đang ở đâu rồi,” Julie nói và dẫn đường qua một ô cửa tối. “Hồi nhỏ chúng tôi rất hay trèo lên tường chơi. Chúng tôi hay lên ngồi ở buồng VIP giả vờ mình là siêu sao hay đại loại thế. Lúc ấy thế giới cũng đã gần tận thế rồi, nên tưởng tượng ra mình là người quan trọng cũng vui.”

Chúng tôi trèo lên mấy bậc thang cao dẫn đến một tầng trên. Phần lớn các cánh cửa đã bị bịt kín, nhưng Julie không buồn để ý đến chúng. Nàng tìm ra một khe hở hẹp trên tường đã được che bởi một tấm nhựa, và chúng tôi lách qua một kẽ nứt vừa đủ cho một cô gái chui lọt.

Chúng tôi bước vào một chỗ chắc hẳn là lô hạng sang của Sân vận động. Những chiếc ghế bọc da đắt tiền nằm lật ngửa quanh những cái bàn mặt kính đã nứt. Những khay đồ ăn bằng bạc chỉ còn toàn nấm mốc. Trên quầy rượu, những ly martini đang nằm đợi bên cạnh những chiếc ví bỏ lại như những người bạn trai kiên nhẫn, không hề hay biết rằng bạn mình sẽ không bao giờ quay về từ buồng vệ sinh nữa.

Nora đang ngồi trước ô cửa sổ khổng lồ hướng xuống nền Sân vận động xa tít bên dưới. Cô nhấp một ngụm từ chai rượu vang trong tay và toét miệng cười với chúng tôi. “Nhìn kìa,” cô nói, chỉ vào màn hình lớn đang chiếu ảnh cô. “Tớ được lên ti vi rồi.”

Julie chạy đến ôm chầm lấy cô, làm rượu sánh cả ra ngoài. “Cậu ổn chứ?”

“Ổn. Cậu quay về làm gì?”

“Cậu có biết chuyện gì đang xảy ra ở ngoài kia không?”

Một loạt lựu đạn nổ ngắt quãng câu hỏi của nàng.

“Nhiều Xương Khô lắm à?”

“Ừ. Chúng đuổi tớ với R về đây. Chúng đang săn lùng bọn tớ.”

Nora vẫy tôi. “Chào R.”

“Chào.”

“Anh muốn làm một ngụm rượu vang không? Một chai Mouton Rothschild từ năm 86 đấy. Tôi xin được miêu tả là nó rất ngon, điểm thêm một chút vị ngon kinh tởm.”

“Không, cảm ơn.”

Cô nhún vai và quay lại nhìn Julie. “Săn lùng các cậu ấy à? Tại sao?”

“Tớ nghĩ bọn chúng biết bọn tớ định làm gì.”

Ngưng một lát. “Thế các cậu đang định làm gì?”

“Tớ cũng không biết nữa. Chắc là sửa lại thế giới?”

Vẻ mặt Nora nhìn giống hệt Julie tối qua lúc nàng nói chuyện điện thoại với M, lắng nghe một tin tức mà nàng không nghĩ là mình sẽ nhận được. “Thật ư?” cô nói, chai rượu đung đưa giữa mấy ngón tay.

“Ừ.”

“Bằng cách nào?”

“Bọn tớ cũng chưa biết. Bọn tớ sẽ chỉ cố thử thôi. Trong lúc thử thì bọn tớ sẽ nghĩ ra.”

Đúng lúc đó màn hình lớn phụt tắt, và giàn loa to tướng gắn trên mái Sân vận động bật lên. Một giọng nói quen thuộc vang vọng khắp bầu trời như tiếng một vị thần điên rồ.

“Julie. Bố biết con đang ở đây. Cơn giận dỗi làm mình làm mẩy này của con phải chấm dứt ngay lập tức. Bố sẽ không cho phép con biến thành mẹ. Da thịt mềm yếu sẽ bị cắn xé bởi những hàm răng cứng rắn. Mẹ con đã chết vì mẹ con không chịu cứng rắn theo.”

Trên mặt đất bên dưới, tôi có thể thấy mấy người lính gác còn lại ngước lên nhìn dàn loa rồi nhìn nhau vẻ lo ngại. Họ nghe được điều gì đó trong giọng nói của ông. Chỉ huy của họ không còn bình thường nữa.

“Thế giới của chúng ta đang bị tấn công và đây có thể là ngày cuối cùng của chúng ta, nhưng con vẫn là điều quan trọng nhất đối với bố, Julie ạ. Bố nhìn thấy con rồi.”

Khi tiếng nói của ông vang vọng qua giàn loa, tôi cảm thấy một cặp mắt lạnh lẽo đang dán vào lưng mình, và quay lại. Ở đầu bên kia Sân vận động, tôi thoáng nhìn ra một dáng người đang đứng đằng sau cửa kính của buồng thông báo tối đen, tay nắm chặt chiếc micro. Julie nhìn qua khoảng cách giữa hai bên một cách chán chường.

“Khi tất cả những điều có thực đã tan biến, sẽ chẳng còn lại gì ngoài nguyên tắc và bố sẽ giữ lấy nó. Bố sẽ khiến mọi chuyện ổn thỏa trở lại. Đợi đấy, Julie. Bố sẽ đến ngay.”

Giàn loa im lặng.

Nora đưa chai vang cho Julie. “L’chaim,” cô khẽ nói. Julie uống một ngụm. Nàng chuyển chai rượu cho tôi. Tôi cũng uống một ngụm. Vị rượu vang đỏ nồng ấm trong dạ dày tôi, chẳng màng gì đến sự im ắng trang nghiêm trong phòng.

“Giờ sao đây?” Nora hỏi.

“Tớ không biết,” Julie gắt trước khi Nora kịp hỏi xong. “Tớ không biết.” Nàng giật chai rượu từ tay tôi và lại làm một ngụm to nữa.

Tôi đứng trước cửa sổ và nhìn xuống những con phố cùng những mái nhà bên dưới, bản sao vi mô của một thành phố thanh bình. Tôi đã mệt mỏi với nơi này quá rồi. Những căn buồng chật hẹp và những hành lang như bóp nghẹt lấy ta. Tôi cần chút không khí.

“Lên mái đi,” tôi nói.

Cả hai cô gái nhìn tôi. “Để làm gì?” Julie hỏi.

“Bởi vì đó là… nơi duy nhất còn lại. Và bởi vì tôi thích chỗ ấy.”

“Anh đã lên đó bao giờ đâu,” Julie nói.

Tôi nhìn vào mắt nàng. “Có rồi đấy.”

Im lặng một hồi lâu.

“Đi thôi,” Nora nói, băn khoăn nhìn tôi sang Julie. “Đó chắc sẽ là chỗ cuối cùng họ tìm, nên ít nhất thì nó cũng… tớ không biết nữa… cho chúng ta thêm thời gian.”

Không rời mắt khỏi tôi, Julie gật đầu. Chúng tôi đi qua những dãy hành lang tối, càng đi chúng càng trở nên kém tiện nghi hơn, có vẻ công nghiệp hơn. Lối đi kết thúc ở chỗ một cái thang. Ánh sáng trắng xóa rọi xuống từ bên trên.

“Anh có trèo lên được không?” Nora hỏi tôi.

Tôi nắm lấy cái thang và rụt rè đu người lên. Tay tôi run rẩy trên những nấc thang bằng thép lạnh ngắt, nhưng tôi có thể trèo được. Tôi trèo thêm một nấc nữa, rồi nhìn xuống hai cô gái. “Được,” tôi đáp.

Họ trèo lên sau tôi và tôi tiếp tục lên cao hơn, trèo thang như thể tôi đã trèo hàng trăm lần rồi vậy. Thật tuyệt biết bao khi cảm giác được đôi tay đờ đẫn của chính mình đang kéo mình về phía ánh sáng ban ngày, còn thích hơn cả khi đi thang cuốn nữa.

Chúng tôi trèo lên một ô cửa sập, và chui qua đó để lên mái Sân vận động. Những tấm ván lát trắng bóng len dưới vầng mặt trời đang lặn. Trên đầu, những rầm xà chống đỡ uốn vòng như một tác phẩm điêu khắc. Và tấm chăn vẫn nằm kia, ướt và hơi mốc vì bị bỏ dưới mưa suốt mấy tuần, nhưng vẫn trải ra đúng như tôi nhớ, đỏ rực trên nền mái trắng.

“Ôi Chúa ơi…” Nora thì thầm, nhìn xuống thành phố bao quanh. Mặt đất bên dưới lúc nhúc đầy những bộ xương, đông hơn hẳn so với đội An ninh. Chúng tôi đã tính toán sai ư? Chúng tôi đã nhầm chăng? Trong đầu mình tôi có thể nghe thấy giọng đắc thắng của ông Grigio trong lúc chúng trèo qua tường và tràn qua cổng để giết hết từng người một. Lũ mơ mộng. Lũ trẻ con vớ vẩn. Lũ càn quấy nhảy nhót điên rồ. Tương lai tươi sáng của bọn mày đấy. Niềm hy vọng chân thành sến đặc của bọn mày đấy. Vị của nó thế nào khi nhỏ giọt xuống từ cổ họng những người mà bọn mày yêu quý?

Perry! Tôi gọi trong đầu mình. Cậu có đó không? Chúng ta phải làm gì bây giờ?

Tiếng nói của tôi vọng lại như lời cầu nguyện trong một nhà thờ tăm tối. Perry không trả lời.

Tôi nhìn những bộ xương giết và ăn thịt một người lính nữa, rồi tôi quay mặt đi. Tôi bịt tai trước những tiếng la hét, tiếng nổ, tiếng súng bắn tỉa tanh tách từ tầng nhà ngay bên dưới chúng tôi. Tôi bịt tai trước tiếng rền vang của những bộ xương, mặc dù bây giờ nó đã biến thành một hợp xướng chói tai gào thét từ khắp mọi hướng. Tôi bịt tai với tất cả mọi thứ và ngồi xuống trên tấm chăn màu đỏ. Trong khi Nora đi đi lại lại trên mái nhà quan sát trận chiến thì Julie chậm rãi đi tới chỗ tấm chăn ngồi xuống cạnh tôi. Nàng co gối vào sát ngực, và chúng tôi cùng nhìn về phía đường chân trời. Chúng tôi có thể nhìn thấy rặng núi. Chúng xanh biếc như mặt biển. Chúng thật đẹp.

“Bệnh dịch này…” Julie nói giọng rất khẽ. “Lời nguyền này… tôi đã đoán được là nó từ đâu đến.”

Những đám mây mỏng màu hồng trên đầu chúng tôi tản ra thành những cuộn dài mềm mại. Một luồng gió lạnh nổi lên ngang qua mái nhà, làm chúng tôi phải nheo mắt lại.

“Tôi không nghĩ nó là do phép thuật hay virus hay tia hạt nhân nào hết. Tôi nghĩ nó đến từ một nơi sâu xa hơn. Tôi nghĩ chính chúng ta đã tạo ra nó.”

Vai chúng tôi tựa vào nhau. Người nàng lạnh ngắt. Như thể hơi ấm trong cơ thể nàng đang rút về, co lại sâu thẳm bên trong nàng để khỏi bị ngọn gió kia thổi tắt.

“Tôi nghĩ chúng ta đã tự đè nát chính mình suốt bao thế kỷ qua. Tự chôn vùi mình dưới lòng tham, căm thù và tất cả những tội lỗi khác, cho tới khi linh hồn chúng ta chìm tới tận đáy vũ trụ. Và rồi chúng đã đào qua cái đáy ấy để tới một nơi… đen tối hơn.”

Tôi nghe thấy tiếng chim bồ câu gù gù trên mái hiên. Chim sáo v*t qua chao liệng trên nền trời xa xa, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi việc nền văn mình ngu ngốc của chúng ta đang tận thế.

“Chúng ta đã giải phóng nó. Chúng ta đào qua lớp đá ngầm và dầu phụt lên, nhuộm đen tất cả chúng ta, lôi tâm bệnh của chúng ta ra ngoài cho tất cả cùng thấy. Giờ thế giới của chúng ta chỉ còn là một cái xác khô, rữa nát dưới chân chúng ta cho tới khi chẳng còn lại gì ngoài xương và tiếng ruồi vo ve.”

Mái Sân vận động chuyển động dưới chân chúng tôi. Với một tiếng rung trầm trầm, kẽo kẹt, toàn bộ khung thép bắt đầu khép lại để che chắn cho những người bên trong khỏi cuộc tấn công đang nhanh chóng biến thành một vụ xâm lăng thực sự. Khi mái Sân vận động đóng vào đánh rầm một cái thì có tiếng chân trèo lên thang về phía chúng tôi. Nora lôi khẩu súng lục của ông Grigio ra khỏi túi và lao đến ô cửa sập.

“Chúng ta làm gì bây giờ, R?” Julie rốt cuộc cũng ngước mắt nhìn tôi. Giọng nàng run run và mắt thì hoe đỏ, nhưng nàng không chịu đầu hàng trước những giọt nước mắt. “Chúng ta có ngu ngốc không khi nghĩ rằng mình có thể làm được điều gì đó? Anh đã khiến tôi hy vọng trở lại, nhưng giờ chúng ta đang ở đây, và tôi nghĩ là chúng ta sắp chết rồi. Vậy ta nên làm gì bây giờ?”

Tôi nhìn vào mặt Julie. Không chỉ là nhìn khuôn mặt ấy, mà nhìn thấu vào bên trong. Mọi lỗ chân lông, mọi vết tàn nhang, mọi sợi lông tơ mỏng mảnh. Rồi tôi nhìn đến những lớp bên dưới. Lớp thịt và xương, máu và não, cho tới tận cái năng lượng không ai biết được cuồn cuộn trong cốt lõi của nàng, sự sống, linh hồn, cái ý chí nóng bỏng khiến nàng không chỉ là một khối thịt, lan truyền tới từng tế bào của nàng và gắn kết hàng triệu tế bào ấy lại để tạo thành nàng. Nàng là ai, cô gái này? Nàng là cái gì? Nàng là tất thảy mọi thứ. Cơ thể nàng chứa đựng lịch sử của sự sống, ghi chép lại trong từng hợp chất hóa học. Trí óc nàng chứa đựng lịch sử của vũ trụ, ghi chép lại bằng nỗi đau, niềm vui và nỗi buồn, bằng lòng căm ghét và hy vọng và những thói quen xấu, bằng mọi ý nghĩ về Chúa, quá khứ – hiện tại – tương lai, cùng một lúc vừa nhớ lại, vừa cảm nhận, vừa mong mỏi.

“Chúng ta làm gì đây?” nàng hỏi như van lơn, khiến tôi choáng váng bởi cặp mắt của nàng, bởi đại dương mênh mông trong đôi đồng tử kia. “Chúng ta còn lại điều gì?”

Tôi không có câu trả lời dành cho nàng. Nhưng tôi nhìn vào mặt nàng, đôi má tái nhợt, đôi môi đỏ đầy sức sống và mềm mại như môi trẻ con, và tôi chợt hiểu ra rằng tôi yêu nàng. Và nếu như nàng là tất cả, thì có lẽ đó đã là câu trả lời đầy đủ.

Tôi kéo Julie vào lòng và hôn nàng.

Tôi áp môi nàng vào môi tôi. Tôi áp người nàng vào người tôi. Nàng vòng tay quanh cổ tôi và ôm chặt lấy tôi. Chúng tôi hôn nhau mà vẫn mở mắt, để nhìn thẳng vào chiều sâu trong mắt nhau. Lưỡi chúng tôi chạm vào nhau, nước miếng hòa lẫn, và Julie cắn môi tôi, làm lớp da toạc rách, rồi hút lấy từng giọt máu rỉ ra. Tôi cảm thấy cái chết trong tôi động đậy, cái chống – sự sống trào tới những tế bào rực sáng của nàng đẻ dập tắt chúng. Nhưng khi nó nhào đến ranh giới, tôi chặn nó lại. Tôi ghìm lấy nó và dúi nó xuống, và tôi cảm thấy Julie cũng làm theo. Chúng tôi giữ chặt lấy con quỷ dữ đang l*ng lộn ấy, chúng tôi cùng đè lấy nó bằng tất cả lòng quyết tâm căm giận, và một điều gì đó đã xảy ra. Nó thay đổi. Nó vặn vẹo uốn éo và lộn trái ra. Nó trở thành một cái gì đó hoàn toàn khác. Một cái gì đó mới mẻ.

Một nỗi đau đớn đê mê xuyên suốt qua tôi, và chúng tôi buông nhau ra với một tiếng kêu. Mắt tôi nhức nhối bởi một cơn đau sâu thẳm, buốt nhói. Tôi nhìn Julie và thấy mắt nàng đang lấp lánh. Những bó cơ giật giật, rồi màu mắt nàng thay đổi. Màu da trời xanh biếc chuyển sang màu xám kẽm, rồi run rẩy, chần chừ, lập lòe, và lóe lên thành màu vàng. Một màu vàng rực như ánh mặt trời mà tôi chưa từng thấy ở bất kỳ con người nào. Đúng lúc đó, xoang mũi tôi cũng sực lên một mùi mới, một mùi giống như mùi sự sống của Người Sống nhưng cũng rất khác. Nó tỏa ra từ Julie, nó là mùi của nàng, nhưng cũng là mùi của tôi nữa. Nó tỏa ra từ người chúng tôi như một luồng pheromone[1] bùng nổ, mạnh tới nỗi tôi gần như nhìn được.

[1] Những chất được tiết ra ngoài cơ thể và được sử dụng như những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loại (chủ yếu là ở côn trùng).

“Cái gì…” Julie thì thầm, nhìn tôi với khuôn miệng hé mở, “… vừa xảy ra vậy?”

Lần đầu tiên kể từ khi ngồi lên tấm chăn này, tôi mới nhìn quanh và trông thấy cảnh vật xung quanh. Có điều gì đó đã thay đổi ở mặt đất bên dưới. Những đội quân xương khô đã thôi không tiến lên nữa. chúng đứng hoàn toàn bất động. Và mặc dù nhìn từ đây không rõ, nhưng hình như chúng đang nhìn thẳng vào chúng tôi.

“Julie!”

Tiếng gọi phá vỡ sự im lặng siêu phàm. Grigio đang đứng trước ô cửa sập trong khi Rosso trèo lên sau lưng ông, thở hổn hển, mắt dán vào vị tướng. Nora ngồi gục xuống dựa lưng vào ô cửa, tay còng vào thang, đôi chân trần duỗi ra trên nền mái bằng thép lạnh. Khẩu súng của cô nằm dưới chân Grigio, vừa ngoài tầm với.

Quai hàm ông Grigio nghiến chặt như muốn vỡ tung. Khi Julie quay lại và ông nhìn thấy đôi mắt khác thường của nàng, cả người ông gồng lên. Tôi có thể nghe thấy tiếng ông nghiến răng ken két.

“Đại tá Rosso,” ông nói bằng giọng khô khan nhất tôi đã từng nghe. “Bắn chúng đi.”

Mặt ông xám ngoét, da khô khốc, tróc vảy.

“Bố,” Julie nói.

“Bắn chúng đi.”

Rosso nhìn từ Julie sang bố nàng. “Thưa ngài, con bé không bị nhiễm bệnh.”

“Bắn chúng đi.”

“Con bé không hề nhiễm bệnh, thưa ngài. Tôi còn không chắc là thằng bé cũng nhiễm bệnh nữa. Nhìn mắt chúng mà xem, chúng…”

“Chúng đã nhiễm bệnh!” Grigio gầm lên. Tôi có thể thấy dấu răng ông hằn lên đôi môi mím chặt. “Dịch bệnh lan truyền như thế đấy! Đây chính là cách lây bệnh! Không có…” Ông nghẹn lời, như thể quyết định rằng mình nói thế là đủ.

Ông rút súng ra và chĩa vào con gái.

“John! Không!” Rosso túm lấy tay Grigio và giật xuống để cố với lấy khẩu súng. Với sự chính xác do được rèn luyện, Grigio túm lấy cổ tay Rosso bẻ mạnh, rồi thúc mạnh vào sườn ông. Ông già gục xuống trên hai đầu gối.

“Bố, thôi đi!” Julie hét lên, và ông đáp lại bằng cách lên cò súng và lại chĩa nó vào nàng. Mặt ông giờ hoàn toàn trống rỗng, không biểu lộ một chút cảm xúc gì hết. Chỉ còn là lớp da kéo căng trên hộp sọ mà thôi.

Rosso đâm một con dao vào cổ chân ông.

Grigio không kêu lên hay phản ứng lại, nhưng chân ông khuỵu xuống và ông ngã ngửa ra sau. Ông trượt xuống mái dốc, lăn lộn vặn người cố tìm một chỗ bám víu trên nền thép mịn. Khẩu súng trượt qua ông rồi rơi xuống mép mái, và ông cũng suýt nữa rơi theo nó – nhưng ông kịp dừng lại. Tay ông bam vào mép mái trong khi người lơ lửng giữa khoảng không. Tôi chỉ nhìn thấy những ngón tay nổi rõ từng đốt trắng bệch của ông và khuôn mặt căng thẳng vì gắng sức nhưng vẫn đờ đẫn đến rợn người.

Julie chạy lại định giúp ông, nhưng mái quá dốc và nàng cũng bắt đầu trượt chân. Nàng khom người ngồi đó và bất lực nhìn bố mình.

Rồi một điều kỳ lạ xảy ra. Khi bàn tay gầy guộc của ông Grigio bám lấy mép mái, một bàn tay khác vươn lên nắm lấy tay ông. Nhưng những ngón tay này không có thịt. Nó chỉ là xương khô, ố nâu ố vàng vì bụi bặm, thời gian, và lớp máu vương lại từ những vụ giết chóc tự bao giờ. Nó bám lấy mái nhà, giữa chặt lớp thép, và kéo lên một bộ xương nhăn nhở phát tiếng kêu trầm đục.

Nó không đi nhanh. Nó không lao hay nhảy. Nó di chuyển một cách từ tốn, không có cái tốc độ khát máu không ngừng nghỉ đã săn đuổi chúng tôi qua thành phố. Và mặc dù nó đã săn đuổi chúng tôi qua thành phố. Và mặc dù nó đã săn đuổi hết sức điên cuồng, dường như bây giờ nó lại chẳng vội tấn công tôi hay Julie. Nó hầu như còn không để ý đến chúng tôi. Nó cúi xuống đưa móng vuốt ra túm lấy áo Grigio và kéo ông lên gờ mái. Grigio cố đứng dậy, và bộ xương kéo ông đứng thẳng lên.

Grigio và bộ xương nhìn nhau, mặt chỉ cách nhau vài phân.

“Bác Rosy!” Julie thét to. “Bắn nó đi!”

Rosso đang cố lấy lại hơi, ôm lấy cổ tay và xương sườn, không cử động nổi. Ông nhìn Julie như muốn cầu xin nàng tha lỗi, không chỉ vì đã làm nàng thất vọng lần này, mà còn bởi vì tất cả những thất bại trước kia dồn lại. Tất cả những năm tháng ông biết rõ sự tình mà không làm gì cả.

Bộ xương nắm lấy tay Grigio hết sức nhẹ nhàng, dịu dàng, như thể sắp sửa dẫn ông vào một điệu nhảy. Rồi nó kéo ông lại gần, nhìn vào mặt ông, và cắn một miếng lên vai ông.

Julie thét lên, nhưng tất cả những người khác đều sững sờ. Grigio không cưỡng lại. Mắt ông mở to rực lên như đang trong cơn sốt, nhưng mặt ông vẫn chỉ là một tấm mặt nạ vô cảm trong khi sinh vật kia ngấu nghiến nhai ông, cắn từng miếng chậm rãi, thưởng thức gần như với vẻ kho*i c*m. Những mẩu thịt rơi qua bộ hàm trống rỗng của nó và rớt xuống mái.

Tôi đứng như trời trồng. Tôi nhìn ông Grigio và bộ xương trong nỗi kinh hoàng mê hoặc, cố hiểu cho ra điều mình đang thấy. Họ đứng đó trên gờ mái, in hình trên nền trời đầy những đám mây hồng và sương mù màu cam rờn rợn, và dưới ánh sáng ma quái ấy, hình hài của cả hai không thể phân biệt được. Chỉ là một bộ xương đang nuốt một bộ xương khác.

Julie lao đến ô cửa sập. Nàng nhặt súng của Nora lên và nhằm vào bộ xương. Đến lúc ấy nó mới nhìn nàng, mới tỏ ra biết đến sự có mặt của chúng tôi, và nó ngửa đầu về phía sau để phát ra một tiếng gào chói tai như tiếng kèn báo ngày tận thế, một thứ âm thanh khàn đục, gỉ sét, và vĩnh viễn lạc điệu.

Julie bắn. Nàng bắn trượt mấy phát đầu tiên, rồi một viên đạn trúng vào sườn bộ xương, phá vỡ xương đòn và một khúc xương hông.

“Julie.”

Nàng dừng lại, khẩu súng run rẩy trong tay. Cha nàng đang trân trân nhìn nàng trong lúc máu chảy hết khỏi người ông. “Bố xin lỗi,” ông khẽ nói.

“Bố, đẩy nó ra đi! Đánh lại nó đi!”

Ông Grigio nhắm mắt lại và nói:

“Không.”

Bộ xương nhăn răng ra với Julie, và ăn họng cha nàng.

Julie hét lên với tất cả nỗi đau khổ và giận dữ trong trái tim non trẻ bị vùi giập của nàng và bắn một phát nữa. Hộp sọ của sinh vật kia biến mất giữa một đám bụi và xương vụn. Với những ngón tay vẫn bám chặt vào vai ông Grigio, nó lảo đảo lùi lại và ngã qua gờ mái.

Ông Grigio ngã theo nó.

Họ rơi cùng nhau, người quấn vào nhau, và thân thể ông Grigio run rẩy quằn quại trong không trung. Ông đang biến chuyển. Lớp thịt còn lại của ông tan ra trong gió, những mẩu khô khốc bay lên như tàn tro, để lại lớp xương trắng nhợt bên dưới, và trong những khúc xương ấy là một lời nhắn mà cuối cùng thì tôi cũng đọc được. Một lời cảnh báo khắc vào từng khúc xương đòn, từng khúc xương cánh tay, từng khúc xương bàn tay đang cố bấu víu:

Đây là dịch bệnh. Đây là lời nguyền. Giờ nó đã mạnh mẽ, đã hằn sâu và thèm khát linh hồn đến nỗi nó không muốn đợi cái chết nữa. Nó sẽ vươn ra đoạt lấy cái nó muốn.

Nhưng hôm nay đã có một quyết định. Chúng tôi sẽ không để mình bị chiếm đoạt. Chúng tôi sẽ giữ chặt lấy điều mình có, cho dù lời nguyền kia có cố sức lôi kéo đến đâu đi chăng nữa.

Trên mặt đất bên dưới, bọn Xương Khô nhìn xác ông Grigio lao xuống đất và vỡ vụn. Chúng nhìn những mẩu còn lại trên nền đất, những mảnh xương trắng, nát nhừ, chẳng còn ý nghĩa gì. Rồi bất thình lình, với những cử động không còn chủ ý hay quyết tâm gì nữa… chúng bỏ đi. Có con đi thành vòng tròn, có một số con khác đâm vào nhau, nhưng dần dần chúng tản đi hết và biến vào giữa những tòa nhà và cây cối. Tôi cảm thấy một nỗi phấn khích nhỏ bé lan vào trong cơ thể. Chúng đã nhận được tín hiệu gì vậy? Giữa bộ xương vừa rơi xuống kia và nguồn năng lượng mới kỳ lạ đang tỏa ra từ mái nhà này như những đợt sóng radio, có phải những hộp sọ trống rỗng của chúng đã nhận được một thông báo? Rằng thời kỳ của chúng đã chấm dứt?

Julie thả rơi khẩu súng. Nàng nhích đến gờ mái và ngồi đó, nhìn xuống đống xương bên dưới. Mắt nàng đỏ ngầu, nhưng vẫn không có một giọt nước mắt. Âm thanh duy nhất trên mái Sân vận động là tiếng gió thổi phần phật vào những lá quốc kỳ và cờ của bang đã rách tả tơi. Rosso nhìn Julie một thoáng rồi tháo còng cho Nora và giúp cô đứng lên. Nora xoa xoa hai cổ tay rồi họ nhìn nhau, một cái nhìn khiến lời nói trở thành không cần thiết nữa.

Julie đi về phía chúng tôi, chân kéo lê, đờ đẫn. Rosso chạm vào vai nàng. “Bác rất xin lỗi, Julie ạ.”

Nàng sụt sịt mũi và nhìn xuống chân. “Cháu không sao.” Giọng nàng cũng như mắt nàng, khô khốc, kiệt quệ. Giờ thì tôi đã có thể, tôi chỉ muốn khóc thay cho nàng. Julie đã là trẻ mồ côi, nhưng nàng còn hơn cả một đứa bé bi thảm mà cái từ ấy gợi nên. Nỗi đau của nàng rồi sẽ bắt kịp nàng và đòi hỏi nàng phải trả giá, nhưng trong lúc này thì nàng vẫn ở bên chúng tôi, còn sống và đứng thẳng.

Rosso đưa bàn tay trái gạt tóc nàng, vén một lọn tóc ra sau tai. Nàng áp lòng bàn tay chai sần của ông vào má và thoáng mỉm cười.

Rosso quay sang tôi. Tôi có thể thấy mắt ông ta đảo sang phải rồi sang trái, quan sát đồng tử của tôi. “Cậu là Archie phải không?”

“Chỉ là R thôi ạ.”

Ông chìa tay ra với tôi, và sau một thoáng bối rối, tôi cũng chìa tay ra. Rosso bắt tay tôi, nhăn mặt chịu cơn đau ở cổ tay. “Tôi không biết vì sao,” ông nói, “nhưng tôi rất mừng được quen cậu, R ạ.”

Ông quay lại chỗ cửa sập.

“Liệu mai chúng ta có họp cộng đồng không ạ?” Nora hỏi.

“Bác sẽ tuyên bố ngay khi xuống khỏi cái thang này. Chúng ta có một số thay đổi cấp bách cần được bàn bạc.” Ông nhìn đội quân xương khô đang lùi dần. “Và bác rất muốn nghe các cháu giải thích xem chuyện quái quỷ gì đã xảy ra hôm nay.”

“Chúng cháu cũng có một vài giả thiết đấy ạ,” Nora nói.

Rosso trèo xuống thang, cẩn thận chỉ dùng tay trái. Nora nhìn Julie. Julie gật đầu. Nora mỉm cười với nàng, rồi với tôi, và biến qua ô cửa sập.

Chúng tôi chỉ còn lại một mình trên mái. Julie nheo mắt nhìn tôi, quan sát tôi như thể nàng chưa bao giờ thấy tôi vậy. Rồi mắt nàng mở to, và nàng hít vào một hơi. “Ôi trời ơi,” nàng nói. “R, anh đang…” Nàng với tay lên bóc miếng băng dính ra khỏi trán tôi. Nàng chạm vào chỗ nàng đã đâm tôi tự thuở nào, vào cái ngày chúng tôi gặp nhau. Ngón tay nàng đỏ thắm. “Anh đang chảy máu!”

Nàng vừa dứt lời thì tôi cũng nhận ra nhiều điều. Những cơn đau nhói khắp người. Tôi đang đau. Tôi sờ soạn người mình và thấy quần áo đang đầy máu. Không phải thứ máu đen sì nhớp nháp đã tắc trong mạch tôi. Mà là thứ máu tươi, đỏ rực rỡ.

Julie áp tay vào ngực tôi mạnh đến nỗi như đánh bằng võ kungfu. Dưới sức ép của tay nàng, tôi đã cảm nhận được. Một chuyển động sâu thẳm trong tôi. Một nhịp đập.

“R!” Julie gần như ré lên. “Em nghĩ là… anh đang sống!”

Nàng nhảy xổ vào tôi, ôm lấy tôi và ghì chặt đến nỗi tôi cảm thấy những khúc xương đang lành dở kêu lên răng rắc. Nàng lại hôn tôi, nếm vị máu mằn mặn trên môi dưới của tôi. Hơi ấm của nàng truyền khắp người tôi, và tôi cảm thấy một luồng cảm giác mới khi rốt cuộc thì hơi ấm của chính tôi cũng đáp lại.

Julie đột nhiên đứng yên. Nàng buông tôi ra và lùi lại một chút, liếc nhìn xuống dưới. Một nụ cười kinh ngạc hiện lên trên mặt nàng.

Tôi cũng nhìn xuống, nhưng thực ra là chẳng cần. Tôi đã cảm thấy nó. Dòng máu nóng hổi của tôi đang truyền đi khắp cơ thể, tràn vào các mao mạch và thắp sáng tế bào như pháo hoa ngày mùng Bốn tháng Bảy. Tôi có thể cảm thấy mỗi nguyên tử trong da thịt mình đều đang ngất ngây vui sướng, đầy nỗi biết ơn vì đã được trao một cơ hội thứ hai mà chúng không hề mong đợi. Cơ hội để bắt đầu lại từ đầu, để sống cho đúng, để yêu cho đúng, để cháy rực lên thành một đám mây nóng bỏng và không bao giờ bị chôn vùi trong bùn nữa. Tôi hôn Julie để giấu việc tôi đang đỏ mặt. Mặt tôi đỏ bừng và nóng đến độ có thể làm tan cả thép.

Được rồi, thây ma, một giọng nói trong đầu tôi lên tiếng, và tôi lại thấy bụng mình giần giật, như một cú huých nhẹ nhàng chứ không còn là một cú đá nữa. Tôi sẽ đi đây. Tôi rất tiếc vì đã không có mặt trong trận chiến của anh nhưng tôi cũng phải chiến đấu cho bản thân mình. Nhưng chúng ta đã thắng, phải không? Tôi có thể cảm nhận được. Chân chúng ta run rẩy như mặt đất đang tăng tốc, vùn vụt phóng tới những quỹ đạo chưa từng ai biết đến. Sợ quá phải không? Nhưng có điều kỳ diệu nào mà lại không bắt đầu một cách đáng sợ? Tôi không biết trang tiếp theo của anh sẽ ra sao, nhưng với tôi thì tôi xin thề là tôi sẽ không làm hỏng nó. Tôi sẽ không ngáp dài mà bỏ dở giữa câu và cất nó vào ngăn kéo. Lần này thì không. Hãy bóc bỏ những tấm chăn len bụi bặm của sự thờ ơ và ác cảm và sự lãnh đạm yếm thế. Tôi muốn cuộc sống với tất cả những cái sống sượng dính nháp ngu ngốc của nó.

Được rồi.

Được rồi, R.

Nó đến rồi đây.

FACEBOOK COMMENT


LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here